Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN KỲ

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày: 16/4/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng sơ thẩm xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Võ Văn Giáp.

Bà: Trần Thị Hợi.

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hà Linh. Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Dân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/HSST ngày 22/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 03/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 13/01/1990 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1963 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1964; vợ: Vương Thị K, sinh năm: 1989 (Đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn 15 tuổi, con nhỏ 10 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến 22/01/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/01/2025 đến 22/3/2025 tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 05/5/1987 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn M, (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1958; vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1989; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến 22/01/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/01/2025 đến 22/3/2025 tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Lê Văn B; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/7/1972 tại huyện A, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/10; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lê Văn H2 (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1945; vợ: Thái Thị Bình sinh năm: 1973; con: Có 03 con, con lớn nhất 32 tuổi, con nhỏ 26 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến 22/01/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/01/2025 đến 22/3/2025 tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Nguyễn Văn N1; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 05/3/1988 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Đức B1, sinh năm: 1953 và bà: Nguyễn Thị B2, sinh năm: 1960; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến 22/01/2025. Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/01/2025 đến 22/3/2025 tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Nguyễn Hữu H3; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 02/9/1971 tại huyện A, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Hữu H4 (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị H5 - Sinh năm: 1936; vợ: Nguyễn Thị O, sinh năm: 1969; con: Có 02 con, con lớn 33 tuổi, con nhỏ 32 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến 22/01/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/01/2025 đến 22/3/2025 tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Anh: Nguyễn Hữu K1, sinh năm: 1980, trú tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  • Bà: Nguyễn Thị O, sinh năm: 1968, trú tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 16/01/2025, Lê Văn B, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Hữu H3 và Nguyễn Văn H đến nhà anh Nguyễn Hữu K1, thuộc xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An để ăn cơm, uống rượu. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Văn B, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1 lên bàn ngồi uống nước, còn anh Nguyễn Hữu K1 (Chủ nhà) tiếp tục ngồi uống rượu được một lúc thì vào phòng nghỉ. Quá trình uống nước, nói chuyện thấy ở khu vực thềm nhà anh Nguyễn Hữu K1 có 01 (một) chiếc chiếu nhựa và 01 (một) bộ bài T1 lơ khơ đặt sẵn ở đó nên Lê Văn B, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1 nảy sinh ý định đánh bạc rồi cùng thống nhất với nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Liêng”, mỗi ván đặt tẩy 10.000 đồng (Mười nghìn đồng), ai cao điểm nhất thì thắng, tố phạt cao nhất đến 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1 ngồi xuống chiếu tham gia đánh bạc được một đến hai ván thì Nguyễn Văn H đi ra thấy có đánh bạc nên cũng ngồi xuống tham gia đánh bạc. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi các bị cáo đang tham gia sát phạt lẫn nhau thì bị lực lượng Công an huyện T vào bắt quả tang thu giữ tại chiếc bạc số tiền: 110.000 đồng (Một trăm mười nghìn đồng) và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 (Năm hai) quân, đã qua sử dụng, đồng thời thu giữ trước vị trí ngồi của Nguyễn Văn N1 số tiền: 1.640.000 đồng (Một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng); Thu giữ trước vị trí ngồi của Nguyễn Văn H số tiền: 1.590.000 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng); Thu giữ trước vị trí ngồi của Nguyễn Hữu H3 số tiền: 1.150.000 đồng (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng); Thu giữ trước vị trí ngồi của Lê Văn B số tiền: 560.000 đồng (Năm trăm sáu mươi nghìn đồng); Thu giữ trước vị trí ngồi của Nguyễn Văn T số tiền: 3.180.000 đồng (Ba triệu một trăm tám mươi nghìn đồng). Sau đó, lực lượng Công an đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong toàn bộ vật chứng, đưa về trụ sở Công an huyện T để điều tra, làm rõ.

Quá trình điều tra đã chứng minh được, Lê Văn B mang theo số tiền: 1.230.000 đồng (Một triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc; Nguyễn Hữu H3 mang theo số tiền: 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc; Nguyễn Văn T mang theo số tiền: 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) sử dụng để đánh bạc, khi thua bạc hết số tiền trên nên Nguyễn Văn T đã vay thêm của bà Nguyễn Thị O, số tiền: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để tiếp tục đánh bạc; Nguyễn Văn N1 mang theo số tiền: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc; Nguyễn Văn H mang theo số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 8.230.000 đồng (Tám triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng).

Cáo trạng số: 17/CT-VKSTK ngày 20 tháng 2 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ truy tố các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Văn H, về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng, tội danh và điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 3 đến 5 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến 22/01/2025.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 mức án từ 21 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 6 ngày tạm giữ (từ ngày 16/01/2025 đến 22/01/2025) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập từ 10% đến 20%.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 24 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 6 ngày tạm giữ (từ ngày 16/01/2025 đến 22/01/2025) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập từ 10% đến 20%.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu H3 từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 BLTTHS, sung công quỹ Nhà nước số tiền: 8.230.000 đồng (Tám triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng).

Tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân mặt sau có hoa văn màu đỏ, trắng, đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc chiếu nhựa đa màu sắc đã qua sử dụng.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Các bị cáo có lời nói sau cùng: bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, bị cáo thật sự rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm pháp quả tang, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/01/2025 tại nhà anh Nguyễn Hữu K1, ở xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Lực lượng Công an huyện T phát hiện và bắt quả tang Lê Văn B, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Liêng”, đặt tẩy mỗi ván 10.000 đồng (Mười nghìn đồng), tố phạt cao nhất mỗi ván đến 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ tại chiếu bạc 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 (Năm hai) quân mặt sau có hoa văn màu đỏ, trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu nhựa đa màu sắc đã qua sử dụng; đồng thời thu giữ tổng số tiền: 8.230.000 đồng (Tám triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng). Trong đó, Nguyễn Văn T sử dụng số tiền: 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Nguyễn Văn H sử dụng số tiền: 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Lê Văn B sử dụng số tiền: 1.230.000 đồng (Một triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc; Nguyễn Văn N1 sử dụng số tiền: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để đánh bạc; Nguyễn Hữu H3 sử dụng số tiền: 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) để đánh bạc.

Như vậy hành vi đánh bạc của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bố của bị cáo Lê Văn B là ông Lê Văn H2 là người có công với cách mạng được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất, vai trò và nhân thân của các bị cáo trong vụ án thì thấy rằng:

Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống chung của nhiều gia đình và các hoạt động bình thường của xã hội, làm cho quần chúng nhân dân bức xúc, lo lắng trước tệ nạn này và là một trong những nguyên nhân gây nên một số loại tội phạm khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức được việc đánh bạc bằng hình thức đánh bài thắng thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật và bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì động cơ, mục đích hám lợi và có thái độ coi thường pháp luật, nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Để đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn cờ bạc trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, cần có đường lối xử phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Trong vụ án này, các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc, tổ chức, cấu kết chặt chẽ nên vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn.

Phân hóa vai trò trong vụ án: Bị cáo Nguyễn Văn T tham gia đánh bạc từ đầu, bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất, số tiền bị cáo sử dụng chiếm gần ½ tổng số tiền của các bị cáo tham gia đánh bạc, khi đánh hết số tiền mang theo bị cáo tiếp tục vay tiền để thực hiện hành vi phạm tội đến tận cùng. Xét thấy địa bàn xã Đ thời gian gần đây tệ nạn đánh bạc gia tăng, vì vậy để làm gương răn đe những đối tượng khác đang có ý đồ tương tự, cần lên cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện việc cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Xét thấy bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức án dưới khung hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn H sử dụng số tiền tham gia đánh bạc nhiều thứ 2, Nguyễn Văn N1 sử dụng số tiền tham gia đánh bạc nhiều thứ 4 trong các bị cáo. Các bị cáo tham gia đánh bạc tích cực ngay từ đầu. Bị cáo H là người ở địa bàn khác nhưng đến địa bàn xã Đ tham gia đánh bạc ngay giữa ban ngày, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của các bị cáo, cần lên cho các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, xét thấy các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên áp dụng điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm. Khấu trừ thu nhập của mỗi bị cáo 15%/1 tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Cụ thể khấu trừ của bị cáo Nguyễn Văn N1: 15% x 5.000.000 đồng/1 tháng = 750.000 đồng/1 tháng; khấu trừ thu nhập của bị cáo Nguyễn Văn H: 15% x 10.000.000 đồng/1 tháng = 1.500.000 đồng/1 tháng.

Bị cáo Lê Văn B sử dụng số tiền tham gia đánh bạc nhiều thứ 3, Bị cáo Nguyễn Hữu H3 sử dụng số tiền tham gia đánh bạc nhiều thứ 5 trong các bị cáo. Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng các bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1, bị cáo B có thêm 1 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt tiền các bị cáo cũng đủ nghiêm.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy qua kết quả xác minh tài sản, các bị cáo không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội, thu nhập thấp, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Về vật chứng: Số tiền: 8.230.000 đồng (Tám triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng), là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc vì vậy áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 BLTTHS, sung công quỹ Nhà nước.

Tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân mặt sau có hoa văn màu đỏ, trắng, đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc chiếu nhựa đa màu sắc đã qua sử dụng.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 3 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 22/01/2025.
    • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36, Bộ luật hình sự.

      Xử phạt: + Bị cáo Nguyễn Văn N1 21 (Hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 6 ngày tạm giữ (từ ngày 16/01/2025 đến 22/01/2025) bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành 20 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ.

      Khấu trừ thu nhập của bị cáo Nguyễn Văn N1 mỗi tháng 750.000 đồng (B3 trăm năm mươi nghìn đồng) trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ ( 21 tháng x 750.000đ/1 tháng = 15.750.000 đồng).

      + Bị cáo Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 6 ngày tạm giữ (từ ngày 16/01/2025 đến 22/01/2025) bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành 23 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ.

      Khấu trừ thu nhập của bị cáo Nguyễn Văn H mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ ( 24 tháng x 1.500.000đ/1 tháng = 36.000.000 đồng).

      Giao bị cáo Nguyễn Văn N1 cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; giao bị cáo Nguyễn Văn H cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian các bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Thời gian cải tạo không giam giữ của các bị cáo được tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh N, nhận được quyết định thi hành án và bản án. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

    • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn B 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
    • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H3 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
    • Miễn hình phạt bổ sung cho tất cả các bị cáo.
  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 BLTTHS, sung công quỹ Nhà nước số tiền: 8.230.000 đồng (Tám triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng).

    Tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân mặt sau có hoa văn màu đỏ, trắng, đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc chiếu nhựa đa màu sắc đã qua sử dụng.

    Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 2 năm 2025 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án huyện Tân Kỳ.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lê Văn B, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Công an huyện Tân Kỳ;
  • - VKSND huyện Tân Kỳ;
  • - Chi cục THADS Tân Kỳ;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã nơi BC cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN về đánh bạc

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger