|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/HS-ST Ngày: 13-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận
Ông Trần Ngọc Thiện
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đàm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn V, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1997, tại tỉnh: Nam Định. Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Thiên chúa. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: làm rẫy, Trình độ học vấn: 6/12. Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Trần Thị L. Bị cáo có vợ là Bùi Thị Thu H1; bị cáo có 02 người con sinh năm 2019 và 2022. Bị cáo có 03 anh em ruột, bị cáo là con út trong gia đình. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1984. Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. (có mặt).
- Người làm chứng:
+ anh Hà M, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
+ anh Trần Văn H2, sinh năm 2006 (có mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 9/2024, anh Nguyễn Văn D đi làm tại tỉnh Lâm Đồng nên nhờ em trai là Nguyễn Văn V đến ở và giữ nhà tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Sau đó, V rủ Trần Văn H2 đến ở cùng tại nhà anh D. Chiều ngày 02/10/2024, V đón xe khách từ nhà đến xã M gặp và mua 500.000 đồng ma túy đá đựng trong 01 gói nylon của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lý lịch). Sau khi mua xong, V mang ma túy về nhà cất giấu để sử dụng. Khoảng 13 giờ ngày 03/10/2024, khi có V và H2 đang ở nhà thì V lấy gói nylon chứa ma túy ra đổ vào trong “nồi” (dụng cụ sử dụng ma túy), rồi cùng H2 lần lượt sử dụng bằng hình thức dùng bật lửa đốt nóng “nồi” lên rồi hút khói vào miệng, cả hai sử dụng ma túy và ngồi chơi được một lúc thì Hà M là bạn của V đến chơi thấy vậy nên đi vào cùng sử dụng ma túy với V và H2. Đến 14 giờ cùng ngày, Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang V, M và H2, niêm phong tang vật là 01 gói nylon chứa ma túy (ký hiệu M1); 01 bộ dụng sử dụng ma túy (ký hiệu M2), 02 bật lửa, 01 ống hút để điều tra. Qua test nhanh, V, H2, M đều có kết quả dương tính với ma túy.
- Tại kết luận giám định số: 1058/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
+ Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là: 0,0518 gam.
+ Chất màu nâu (ký hiệu M2) bám dính trong ống bầu tròn của ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là: 0,0052 gam.
- Về vật chứng vụ án: Số ma túy còn lại sau giám giám định đã được niêm phong trong phong bì số 1058; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 02 bật lửa, 01 ống hút chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ việc truy tố, xét xử.
- Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự
- Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị:
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 07 năm đến 08 năm tù.
Hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định.
- Án phí: Buộc bị cáo nộp theo quy định.
- Đối với người đàn ông bán ma tuý cho V (không rõ nhân thân, lý lịch), không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B không đề nghị, nên Viện kiểm sát không đề cập.
- Đối với Trần Văn H2 và Hà M được V cho sử dụng ma túy, nhưng không giúp sức hay góp tiền cho V trong việc phạm tội. Cơ quan CSĐT - Công an huyện B đã giao cho Công an xã Đ lập hồ sơ xử lý theo luật định.
- Đối với anh Nguyễn Văn D nhờ V trông nhà giúp, không biết V tổ chức sử dụng ma túy, không có căn cứ xử lý. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B không đề nghị, nên VKS không đề cập.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo V: Vào khoảng đầu tháng 09/2024, anh Nguyễn Văn D đi làm tại tỉnh Lâm Đồng nên nhờ em trai là Nguyễn Văn V đến ở và giữ nhà tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Sau đó, V rủ Trần Văn H2 đến ở cùng tại nhà anh D. Chiều ngày 02/10/2024, V đón xe khách từ nhà đến xã M gặp và mua 500.000 đồng ma túy đá đựng trong 01 gói nylon của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lý lịch). Sau khi mua xong, V mang ma túy về nhà cất giấu để sử dụng. Khoảng 13 giờ ngày 03/10/2024, khi có V và H2 đang ở nhà thì V lấy gói nylon chứa ma túy ra đổ vào trong “nồi” (dụng cụ sử dụng ma túy), rồi cùng H2 lần lượt sử dụng bằng hình thức dùng bật lửa đốt nóng “nồi” lên rồi hút khói vào miệng, cả hai sử dụng ma túy và ngồi chơi được một lúc thì Hà M là bạn của V đến chơi thấy vậy nên đi vào cùng sử dụng ma túy với V và H2. Đến 14 giờ cùng ngày, Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang V, M và H2, niêm phong tang vật là 01 gói nylon chứa ma túy (ký hiệu M1); 01 bộ dụng sử dụng ma túy (ký hiệu M2), 02 bật lửa, 01 ống hút để điều tra. Qua test nhanh, V, H2, M đều có kết quả dương tính với ma túy.
Tại kết luận giám định số: 1058/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
+ Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là: 0,0518 gam.
+ Chất màu nâu (ký hiệu M2) bám dính trong ống bầu tròn của ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là: 0,0052 gam.
Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định ngày 03/10/2024, Nguyễn Văn V có hành vi cung cấp chất ma túy, chuẩn bị địa điểm, dụng cụ để bản thân cùng Trần Văn H2 và Hà M sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đã phạm vào “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Đối với 02 người trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và xâm phạm đến việc quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã tổ chức cho hai người sử dụng trái phép chất ma túy.
[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có con còn nhỏ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét toàn bộ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, hội đồng xét xử thấy cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Cần tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 02 bật lửa, 01 ống hút đã được niêm phong.
[5] Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập thương xuyên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] - Đối với người đàn ông bán ma tuý cho V (không rõ nhân thân, lý lịch), không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B không đề nghị, Viện kiểm sát không đề cập, nên HĐXX không xem xét.
- Đối với Trần Văn H2 và Hà M được V cho sử dụng ma túy, nhưng không giúp sức hay góp tiền cho V trong việc phạm tội. Cơ quan CSĐT - Công an huyện B đã giao cho Công an xã Đ lập hồ sơ xử lý theo luật định.
- Đối với anh Nguyễn Văn D nhờ V trông nhà giúp, không biết V tổ chức sử dụng ma túy, không có căn cứ xử lý, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B không đề nghị, VKS không đề cập, nên HĐXX không xem xét.
[7] Án phí: Buộc các bị cáo phải nộp theo luật định.
[8] Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng pháp luật và hình phạt:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2024. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- - Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, thường xuyên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 02 bật lửa; 01 ống hút; 01 phong bì niêm phong ký hiệu 1058 của Phòng K - Công an tỉnh B.
(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ký hiệu: D47/2017; Quyển số 0205; Số 00102005 ngày 17/02/2025 giữa Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng)
- Án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thu Hà |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
