Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày 12 tháng 6 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trần Quang Huấn
2. Ông Vi Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Huy Phương - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: HÀ HẢI ANH Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05/02/1996 tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Hà Đình M, sinh năm: 1975. Hiện ở tỉnh Lâm Đồng; Mẹ đẻ: Vi Thị H; Sinh năm: 1976. Hiện ở tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Có 02 anh em, bị can là thứ nhất; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: + Tại bản án số 33/HSST ngày 26/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử 02 năm 6 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Bồi thường cho bị hại 1.500.000 đồng; 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; 200.000 đồng án phí dân sự trong vụ án hình sự. (Đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 28/5/2018; Chấp hành xong nghĩa vụ nộp án phí ngày 08/9/2016; Xác minh tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, qua rà soát sổ thụ lý và hồ sơ lưu trữ không có hồ sơ, tài liệu về việc thụ lý đối với thi hành khoản tiền bồi thường theo bản án trên, hiện không xác định được người được bồi thường hiện đang cư trú, làm việc ở đâu);+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 161 ngày 04/9/2019 của Công an thị xã P, xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. (Xác minh tại phòng nghiệp vụ Công an tỉnh P thể hiện bị cáo chưa thi hành quyết định xử phạt, Công an thị xã P không áp dụng các biện pháp đôn đốc, cưỡng chế hành chính, đến nay đã hết thời hiệu thi hành); + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 69 ngày 27/4/2022 của Công an thị xã P, xử phạt 6.000.000 đồng về hành vi Gây thương tích cho người khác. (Bị cáo chưa nộp phạt, hồ sơ xử phạt hành chính không thể hiện bị cáo đã nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Công an thị xã P đã tiến hành đôn đốc từ ngày 03/5/2022 đến ngày 10/4/2023, tuy nhiên bị cáo không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu làm gì, đến nay đã hết thời hiệu thi hành). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/01/2025 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

2. Họ và tên: NGUYỄN HỒNG M1 Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/12/2000 tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ;Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Nguyễn Phi H1, sinh năm: 1973; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị D, sinh năm: 1975;(Hiện bố, mẹ đẻ ở: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; A, chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Lò Thị T, sinh năm: 2001; Con: có 01 người con, sinh năm 2023; (Hiện vợ, con ở: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 178 ngày 10/8/2020 của Công an huyện T, xử phạt 500.000 đồng về hành vi Mua các số lô, số đề. (Đã nộp phạt ngày 10/8/2020).+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 296 ngày 07/10/2020 của Công an huyện T, xử phạt 750.000 đồng về hành vi Xúi dục người khác đánh nhau. (Xác minh tại phòng hồ sơ Công an tỉnh P thể hiện bị cáo chưa thi hành quyết định xử phạt, Công an huyện T không áp dụng các biện pháp đôn đốc, cưỡng chế hành chính, đến nay đã hết thời hiệu thi hành).+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 130 ngày 22/10/2021 của Công an thị xã P, xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ dao, kiếm nhằm mục đích gây thương tích cho người khác. (Bị cáo chưa nộp phạt, Công an thị xã P đã tiến hành đôn đốc từ ngày 15/12/2021 đến ngày 20/10/2022, tuy nhiên bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập nên không có tiền để chấp hành nộp phạt, đến nay đã hết thời hiệu thi hành).+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 68 ngày 27/4/2022 của Công an thị xã P, xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi Gây thương tích cho người khác. (Bị cáo chưa nộp phạt, hồ sơ xử phạt hành chính không thể hiện bị can đã nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Công an thị xã P đã tiến hành đôn đốc từ ngày 06/5/2022 đến ngày 01/4/2023, tuy nhiên bị cáo không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu làm gì). Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ từ ngày 13/5/2025 đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 19 ngày 09/5/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ.

( Các bị cáo đều có mặt tại phiên toà)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Hồng H2, sinh năm 1996. Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  2. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
  3. Anh Lê Minh H3, sinh năm 2002. Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  4. Anh Hoàng Trọng T1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  5. Anh Nguyễn Phi H1, sinh năm 1973. Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ

( Tất cả người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 10 phút, ngày 13/01/2025, tại khu vực đường nối giữa đường tỉnh lộ 320C với đường H, Tổ công tác Công an thị xã P phát hiện bị cáo Hà Hải A,; bị cáo Nguyễn Hồng M1, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tại chỗ, bị cáo A và bị cáo M1 cùng khai nhận đang đứng ở đây để đợi mua ma túy về sử dụng, trước đó vào khoảng 20 giờ 30 phút, cùng ngày, cũng tại địa điểm này, bị cáo A và bị cáo M1 cũng đứng ở đây mua được ma túy đá của một người đàn ông (không xác định được lai lịch) mang về để bán lại cho Lê Hồng H2, sinh năm: 1996, nơi thường trú: Khu Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Tạm giữ của Anh: 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu vàng, số IMEL: 355846084163366 gắn sim số 0967819334 và 01 (một) bật lửa ga màu vàng. Tạm giữ của M1: 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu đỏ cam, số IMEL: 358821091611845 gắn sim số 0348342211 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Aribale, màu nâu, đen, BKS: 19K1-155.56. Tổ công tác đã mời chính quyền địa phương, người chứng kiến đến tiến hành lập biên bản kiểm tra và tạm giữ đồ vật, tài sản theo quy định.

Tại cơ quan điều tra bị cáo A và M1 khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 13/01/2025, Hà Hải A đang đi cùng Nguyễn Hồng M1 tại khu vực khu công nghiệp P, thị xã P, thì Lê Hồng H2 sử dụng điện thoại di động Iphone 11 promax, gắn thẻ sim 0979442826 đăng nhập vào ứng dụng Messenger (tài khoản mang tên “Hạnh L1”) của mình, gọi vào tài khoản M2 “Hải Anh” của bị cáo A và hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá, A đồng ý rồi quay sang nói lại với M1 việc H2 hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá và bảo M1 liên hệ mua ma túy để bán cho H2, M1 đồng ý và sử dụng điện thoại di động Iphone, gắn sim số 0348.342.xxx, đăng nhập vào tài khoản Zalo “Nguyễn Hồng M1” của mình nhắn tin đến tài khoản Z “ThêThôi” (tài khoản Zalo “ThêThôi” M1 có được là do Nguyễn Văn P, sinh năm: 1994, nơi thường trú: Khu A, xã P, thị xã P là bạn cùng làm trong công ty giới thiệu, khi nào cần mua ma túy thì liên lạc với tài khoản Zalo trên) để hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá, người này nhắn tin lại cho M1 đồng ý bán ma túy cho M1 và hẹn sẽ gọi lại sau. Đồng thời lúc này, A sử dụng tài khoản Messenger của mình như đã nêu ở trên nhắn tin trả lời lại cho H2 là có ma túy để bán cho H2 và gửi số tài khoản ngân hàng của Anh cho H2 để H2 chuyển tiền. Một lúc sau H2 chuyển số tiền 1.000.000 đồng từ tài khoản số [...] mở tại ngân hàng V (Số tài khoản này đứng tên anh Lê Minh H3, sinh năm: 2002, nơi thường trú: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, là em trai ruột của H2, cho H2 mượn để sử dụng và không biết việc H2 chuyển tiền mua ma túy đá của A) đến số tài khoản 020090857097, mở tại ngân hàng S của A. Sau khi bị cáo A đã nhận được tiền trong tài khoản ngân hàng của mình, bị cáo M1 điều khiển xe mô tô Honda Aribale, BKS: 19K1-155.56 chở Anh đến quán sửa điện thoại của anh Hoàng Trọng T1, sinh năm: 1988, thuộc khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (anh T1 có mở cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại và làm dịch vụ chuyển, rút tiền qua tài khoản). Tại đây, bị cáo A nhờ T1 đổi cho mình 1.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng sang tiền mặt, sau đó Anh chuyển 1.000.000 đồng từ số tài khoản ngân hàng của mình (là số tiền mà H2 chuyển cho A) đến số tài khoản 9704229263532942 mở tại ngân hàng N của anh T1, nhận được tiền trong tài khoản ngân hàng, anh T1 đưa lại cho Anh 1.000.000 đồng tiền mặt, A đưa lại cho anh T1 10.000 đồng phí nhờ đổi tiền (Số tiền này Anh lao động mà có). Có được tiền mặt mua ma túy đá, A và M1 đi về nhà Anh đợi. Một lúc sau, người đàn ông có nick Zalo “Thế Thôi” nhắn tin và gửi vị trí cho M1 (khu vực đường nối giữa đường tỉnh lộ 320C với đường H) hẹn giao dịch mua bán ma túy đá tại đây. Sau đó, M1 điều khiển xe mô tô Honda Aribale, BKS: 19K1-155.56 chở Anh đến địa điểm trên, tại đây M1 và A gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch), Bị cáo M1 đưa cho người đàn ông này 1.000.000 đồng, người đàn ông này đưa lại cho M1 01 vỏ bảo thuốc lá T (loại vỏ cứng màu vàng), M1 và A biết bên trong có chứa ma túy đá nên không kiểm tra. Giao dịch mua bán ma túy xong, A điều khiển xe mô tô trên chở M1 ngồi sau về nhà của bị cáo A thuộc khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Trên đường đi M1 mở vỏ bao thuốc lá Thăng L vừa mua ở trên kiểm tra, thấy bên trong là 01 (một) gói ma túy đá được đựng bằng túi nilong màu trắng loại túi zip, ở đầu có mép vuốt bịt kín có viển kẻ màu xanh bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá, không xác định được khối lượng). Về đến nhà của bị cáo A, bị cáo A và bị cáo Mạnh sẻ số ma túy vừa mua được trên làm hai phần bằng nhau, một phần để bị cáo A mang đi bán cho H2 với giá đã thỏa thuận là 1.000.000 đồng, một phần để A và M1 cùng nhau sử dụng (Đây là phần ma túy của bị cáo A và bị cáo M1 được hưởng lợi chung, thông qua việc cùng đi mua ma túy đá và bán lại cho H2). M1 đồng ý và lấy giấy một mảnh giấy bạc (mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng) từ trong bao thuốc lá của mình, sẻ một phần ma túy (không xác định được khối lượng) từ túi nilong chứa ma túy đá vừa mua về được như đã nêu ở trên, vào mảnh giấy này rồi gói lại đưa cho bị cáo Anh để đem đi bán cho H2, phần ma túy còn lại vẫn chứa trong túi nilong (không xác định được khối lượng) bị cáo M1 giữ lại để chờ Anh đi bán ma túy đá cho H2 xong cùng nhau sử dụng. Sau đó, bị cáo A cầm gói ma túy mà bị cáo M1 đưa, rồi lấy một đoạn băng dính màu đen có sẵn trong nhà quấn bên ngoài gói ma túy này, đến khoảng 20 giờ ngày 13/01/2025, thông qua ứng dụng Messenger trên điện thoại của mình, Anh gọi điện thoại hẹn gặp H2 tại nhà H2 để đưa ma túy, rồi Anh một mình điều khiển xe mô tô Honda Aribale, BKS: 19K1-155.56 của M1 đi đến nhà H2 đưa gói ma túy này cho H2. Nhận gói ma túy mua được từ A, H2 cầm ở tay mang lên phòng ngủ nhà mình, sau đó H2 lấy một phần số ma túy vừa mua được này vào cóng thủy tinh (do H2 chuẩn bị sẵn ở nhà) rồi đốt lên để sử dụng, sau khi sử dụng xong H2 gói phần ma túy còn lại chưa sử dụng và bộ đồ H2 vừa dùng để sử dụng ma túy cho vào một túi nilong màu đen rồi cất giấu trên nóc tủ phòng ngủ nhà mình. Về phần Hà Hải A, sau khi bán ma túy cho H2, bị cáo A quay về nhà mình để đón M1, cả hai cầm phần ma túy đá còn lại (được hưởng lợi từ việc bán ma túy cho H2) vẫn chứa trong túi nilong, đi ra khu vực bãi đất trống ở cánh đồng (thuộc khu Đ, xã Đ, huyện T) sau đó M1 cho tất cả số ma túy đá trên vào mảnh giấy bạc của bao thuốc lá T2, rồi M1 và Anh thay nhau dùng bật lửa đốt để sử dụng hết số ma túy trên (mỗi người hút được 3 đến 4 hơi). Sau khi sử dụng xong, M1 dùng bật lửa đốt mảnh giấy bạc và túi nilong. Do bị cáo A và bị cáo M1 tiếp tục muốn sử dụng ma túy nên bị cáo M1 đã gọi điện qua Z cho tài khoản “ThêThôi” để hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, người đàn ông có tài khoản Zalo trên đồng ý và hẹn bị cáo M1 giao dịch mua bán ma túy tại địa điểm trước đó. Sau đó, bị cáo A và bị cáo M1 đi đến nơi hẹn thì bị Tổ công tác Công an thị xã P kiểm tra như đã nêu ở trên.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo Hà Hải A và bị cáo Nguyễn Hồng M1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo A tại khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ và chỗ ở của bị cáo M1 tại khu B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Qúa trình khám xét không thu giữ được gì.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Hồng H2 tại khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thu giữ: 01 nắp chai nhựa màu vàng, được đục thủng 02 lỗ; một lỗ có gắn 01 ống thủy tinh màu trắng được uốn cong, không rõ hình, một đầu hình cầu, một đầu hình trụ tròn, ở phía trong đầu hình cầu có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng; lỗ còn lại được gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa dài khoảng 25 cm một nửa màu xanh, một nửa màu trắng; 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng được cuốn bên ngoài bằng băng dính màu đen, mặt trong gói giấy có màu trắng, bên trong gói giấy có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng. (H2 khai đây là số ma túy còn lại Anh bán lại cho H2 chưa sử dụng hết và dụng cụ để sử dụng số ma túy trên); 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax gắn sim số 0979.442.826; 01 điện thoại di động Oppo màu đen có gắn sim số 0865.599.211.

Ngày 14/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P ra Quyết định trưng cầu mẫu vật thu giữ tại nhà của Lê Hồng H2. Kết luận giám định số 92/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh P. Kết luận:

“ - Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, được cuốn bên ngoài bằng băng dính màu đen trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,015 gam. loại Methaphetamine.

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bám dính trong một đầu hình cầu của một cóong thủy tinh màu trắng (không rõ hình) trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,000 gam. loại M3( chất rắn dạng tinh thể màu trắng bám dính trong một đầu hình cầu ở dạng lượng viết, khối lượng rất nhỏ, không xác định được trên cân phân tích số 4)

* Methamphetamine: Số thứ tự 247, Danh mục IIC. Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

Hoàn lại đối tượng sau giám định: 0,006 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong 01 bì giấy, bên ngoài có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng K và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán”

Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai đối với Lê Hồng H2, tiến hành đối chất giữa A và H2, giữa A và M1. Bản thân H2, A và M1 thừa nhận đã mua và bán ma túy vào ngày 13/01/2025 như đã nêu ở trên.

Tiến hành đối chất giữa M1 và P: P không thừa nhận đã giới thiệu tài khoản Zalo “ThêThôi” cho bị cáo M1 như đã nêu ở trên, P không biết việc bị cáo M1 mua và sử dụng ma túy và không biết thông tin lai lịch của chủ tài khoản Z “Thêthôi”. Ngoài lời khai của bị cáo M1, không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh, do đó không có căn cứ để xử lý đối với P.

Kiểm tra danh bạ, nhật ký, tin nhắn, ứng dụng trên chiếc điện thoại Iphone, màu vàng, gắn sim số 0967.819.334 thu giữ của bị cáo Hà Hải A. Phần ứng dụng Massenge Facebook duy trì đăng nhập tài khoản mang tên “Hải Anh”, tuy nhiên nội dung tin nhắn và nhật ký cuộc gọi qua Massenge Facebook với tài khoản “Hạnh L1” sau khi nhận được tiền H2 chuyển để nhờ mua ma túy Anh đã xóa hết. Phấn ứng dụng S1 đăng nhập tài khoản số 0967819334 thể hiện nội dung lịch sử giao dịch nhận tiền do H2 chuyển cho bị cáo A để mua ma túy đá và A chuyển cho anh T1 để lấy tiền mặt đi mua ma túy đá, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành tra cứu thông tin cá nhân và lịch sử giao dịch ngày 13/01/2025 đối với số tài khoản 020090857097 mở tại ngân hàng S của A, số tài khoản 100877910666 mở tại ngân hàng V của H2, số tài khoản 9704229263532942 mở tại ngân hàng N của anh T1, thể hiện thông tin tài khoản, lịch sử chuyển tiền đúng với lời khai của A, H2 và anh T1.

Kiểm tra danh bạ, nhật ký, tin nhắn, ứng dụng trên chiếc điện thoại Iphone, màu đỏ, gắn sim số 0348.342.211 thu giữ của Nguyễn Hồng M1. Phần ứng dụng Zalo duy trì đăng nhập tài khoản mang tên “Nguyễn Hồng M1” đăng ký bằng sim số 0348.342.211, thể hiện nhiều cuộc gọi với tài khoản tên “Thêthoi”, M1 khai nhận đây là lịch sử cuộc gọi M1 gọi cho người đàn ông đã bán ma túy cho M1 vào ngày 13/01/2025.

Kiểm tra danh bạ, nhật ký, tin nhắn, ứng dụng trên chiếc điện thoại Iphone, màu xanh, gắn sim số 0979.442.826 thu giữ của Lê Hồng H2. Phần ứng dụng Massenge Facebook duy trì đăng nhập tài khoản mang tên “Hạnh L1”, đây là tài khoản H2 liên lạc với Anh để mua ma túy. Tuy nhiên, không còn nội dung tin nhắn và nhật ký cuộc gọi qua Massenge Facebook với tài khoản “Hải Anh” của A.

Về kết quả xác minh điều kiện kinh tế: Qua xác minh các bị cáo không có tài sản gì có giá trị, ngoài đồ dùng sinh hoạt hàng ngày.

Về vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ, kết quả điều tra xác định:

  • Đối với 01 túi niêm phong số 92/KL-KTHS đỏ của Phòng K Công an tỉnh P bên trong có 0,006 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định là vật chứng của vụ án;
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, số IMEI: 355846084163366, có gắn sim số 0967819334 là điện thoại của A dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma tuý với H2;
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đỏ cam, số IMEI: 358821091611845, có gắn sim số 0348342211 đây là điện thoại và thẻ sim mà M1 dùng để đăng ký tài khoản zalo để liên hệ mua ma tuý;
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xám, số IMEL: 353890102154546 gắn sim số 0979442826 là điện thoại của H2 dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma tuý với Anh;
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động OPPO, màu đen, số IMEL: 866451064918079, có gắn sim số 0865599211 và sim số 0335171479. Là điện thoại H2 dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội;
  • Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBALE, màu nâu, đen, đã qua sử dụng, BKS: 19K1 – 155.56 là chiếc xe máy của ông Nguyễn Phi H1 (là bố đẻ của M1), M1 mượn để làm phương tiện đi lại hàng ngày, việc A và M1 dùng chiếc xe trên để đi mua bán ma tuý ông H1 không biết;
  • Đối với 01 (một) nắp chai bằng nhựa, màu vàng, đục thủng 02 lỗ; 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa (một nửa màu xanh, một nửa màu trắng); 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ. Số đồ vật trên là dụng cụ H2 dùng để sử dụng ma túy;
  • Đối với 01 (một) bật lửa ga màu vàng. Anh và M1 dùng để sử dụng ma tuý;

Tại phiên tòa bị cáo Hà Hải A khai nhận: Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng tuy tố bị cáo về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là đúng. Hồi 20 giờ 30 phút ngày 13/01/2025, tại khu vực đường nối giữa đường tỉnh lộ 320C với đường H. Bị cáo và M1 đã có hành vi mua 01 (một) gói ma túy đá (Methaphetamine của một người đàn ông với giá 1.000.000 đồng. Bị cáo và M1 thống nhất sẻ số ma túy trên thành 02 (hai) phần ma túy 01 (một) phần ma túy bán lại cho Lê Hồng H2 với giá 1.000.000 đồng, phần ma túy còn lại bị cáo và M1 được hưởng lợi từ việc bán ma túy cho H2, số ma túy này bị cáo và M1 đã cùng nhau sử dụng hết cho bản thân. Khi bị cáo bị bắt bị cáo bị thu giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, số IMEI: 355846084163366, có gắn sim số 0967819334 là điện thoại của bị cáo dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma tuý với H2, ngoài ra bị cáo không có tài sản gì có giá trị.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hồng M1 khai nhận: Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng tuy tố bị cáo về tội danh Mua bán trái phép chất ma túy là đúng và cũng đúng như lời khai của bị cáo A đã trình bày, bị cáo không khai báo gì thêm. Khi bị cáo bị bắt bị cáo bị thu giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đỏ cam, số IMEI: 358821091611845, có gắn sim số 0348342211 đây là điện thoại và thẻ sim mà bị cáo dùng để đăng ký tài khoản zalo để liên hệ mua ma tuý; ngoài ra bị cáo không có tài sản gì có giá trị.

Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKSTXPT ngày 12/52025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Hà Hải A, Nguyễn Hồng M1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

- Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hà Hải A, Nguyễn Hồng M1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

+ Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm r,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS

Xử phạt bị cáo Hà Hải A từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo A bị tạm giữ, tạm giam là ngày 19/01/2025;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng M1 từ 26 đến 29 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

+ Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 BLHS 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Các bị cáo không có tài sản có giá trị ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân, nên không áp dụng phạt bổ sung.

- Về xử lý vật chứng

Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 BLTTHS đề nghị xử lý vật chứng.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 túi niêm phong số 92/KL-KTHS đỏ của Phòng K Công an tỉnh P bên trong có 0,006 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định;
  • 01 (một) nắp chai bằng nhựa, màu vàng, đục thủng 02 lỗ; 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa (một nửa màu xanh, một nửa màu trắng); 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ. Số đồ vật trên là dụng cụ H2 dùng để sử dụng ma túy;
  • 01 (một) bật lửa ga màu vàng Anh và M1 dùng để sử dụng ma tuý;
  • Sim số 0967819334; 0348342211; 0979442826 (Không có giá trị sử dụng).

- Tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, số IMEI: 355846084163366; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đỏ cam, số IMEI: 358821091611845; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xám, số IMEL: 353890102154546 M1 và H2 sử dụng để trao đổi mua bán ma túy.

- Truy thu của Hà Hải A và Nguyễn Hồng M1 số tiền 1.000.000 đồng thu lời bất chính từ việc bán ma túy cho H2 (Kỷ phần mỗi bị cáo 500.000 đồng);

- Trả lại cho Lê Hồng H2 01 (một) điện thoại di động OPPO, màu đen, số IMEL: 866451064918079, có gắn sim số 0865599211 và sim số 0335171479. Là điện thoại H2 dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Trả lại cho ông Nguyễn Phi H1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBALE, màu nâu, đen, đã qua sử dụng, BKS: 19K1 – 155.56 - Đây là tài sản hợp pháp của ông H1 việc A và M1 dùng chiếc xe trên để đi mua bán ma tuý ông H1 không biết;

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Anh xin Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình. Bị cáo M1 xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và phù hợp với pháp luật.

[2] Đánh giá chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 13/01/2025, tại khu vực đường nối giữa đường tỉnh lộ 320C với đường H. Bị cáo Hà Hải A và bị cáo Nguyễn Hồng M1 đã có hành vi mua 01 (một) gói ma túy đá (Methaphetamine) (không xác định được khối lượng) của một người đàn ông không xác định được danh tính với giá 1.000.000 đồng. Bị cáo A và bị cáo M1 thống nhất sẻ số ma túy trên thành 02 (hai) phần ma túy (không xác định được khối lượng), 01 (một) phần ma túy bán lại cho Lê Hồng H2 với giá 1.000.000 đồng, phần ma túy còn lại bị cáo A và bị cáo M1 được hưởng lợi từ việc bán ma túy cho H2, số ma túy này bị cáo A và bị cáo M1 đã cùng nhau sử dụng hết cho bản thân.

Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận hành vi của các bị cáo Hà Hải A và bị cáo Nguyễn Hồng M1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo A và bị cáo M1. Cơ quan Cảnh sát điều tra không biết được lai lịch, địa chỉ, số điện thoại nên không có thông tin để xác minh xử lý. Xét thấy là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép 0,015 gam ma túy loại Methaphetamine để sử dụng cho bản thân của Lê Hồng H2, chưa đủ khối lượng để cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, quá trình điều tra xác định Lê Hồng H2 không có tiền án, tiền sự về hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, chiếm đoạt trái phép chất ma túy. Do đó Công an tỉnh P quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Hà Hải A và bị cáo Nguyễn Hồng M1, số ma túy trên là của bị cáo A và bị cáo M1 được hưởng lợi chung từ việc bán ma túy cho H2, không ai chỉ huy, phân công, cung cấp địa điểm, ma túy cho bị cáo A và bị cáo M1 sử dụng, bị cáo A và bị cáo M1 tự châm tự hút ma túy, không ai châm bón cho ai. Do đó, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo A và bị cáo M1 không cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS. Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật. Xét thấy là phù hợp với quy định của Pháp luật.

Đối với anh Hoàng Trọng T1, việc bị cáo Hà Hải A chuyển tiền nhờ anh T1 đổi ra tiền mặt để đi mua ma túy, anh T1 không biết, do đó không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

Đối với anh Lê Minh H3 (là em trai ruột của H2), anh H3 cho H2 sử dụng tài khoản ngân hàng của mình từ khoảng 02 năm về trước và không sử dụng số tài khoản này nữa. Việc H2 sử dụng số tài khoản trên để chuyển tiền cho A để đi mua ma túy anh H3 không biết, do đó không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Xét thấy tính chất vụ án là thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và nó là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt thật nghiêm minh để các bị cáo nhận thức được tính chất nghiêm trọng và hậu quả do hành vi của các bị cáo đã gây ra, đồng thời có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo thì cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Các bị cáo Hà Hải A và Nguyễn Hồng M1 đều có nhân thân xấu, mặc dù đã bị xét xử và xử phạt hành chính nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, nên cần có hình phạt nghiêm khắc để các bị cáo có thời gian cải tạo, rèn luyện, nhận thức được hành vi phạm tội của mình và trở thành người công dân hữu ích cho xã hội. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, các bị cáo tự khai nhận hành vi bán ma túy cho Lê Hồng H2 nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r,s khoản 1 điều 51 bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Song cần đánh giá nhân thân mỗi bị cáo để áp dụng mức án đối với từng bị cáo cho phù hợp. Do vậy, đối với bị cáo A xem xét áp dụng mức án cao hơn bị cáo M1 mới tương xứng với mức độ phạm tội đối với các bị cáo.

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo rèn luyện, cải tạo được tội lỗi mà bị cáo đã phạm. Đối với bị cáo A, bị cáo M1 chỉ cần áp dụng hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo A và bị cáo M1 không có tài sản gì có giá trị. nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật

[5]. Về xử lý vật chứng và các tài sản, đồ vật tạm giữ:

Đối với 01 túi niêm phong số 92/KL-KTHS đỏ của Phòng K Công an tỉnh P bên trong có 0,006 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) nắp chai bằng nhựa, màu vàng, đục thủng 02 lỗ; 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa (một nửa màu xanh, một nửa màu trắng); 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ. Số đồ vật trên là dụng cụ H2 dùng để sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) bật lửa ga màu vàng bị cáo A và bị cáo M1 dùng để sử dụng ma tuý và các sim số 0967819334; 0348342211; 0979442826 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, số IMEI: 355846084163366; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đỏ cam, số IMEI: 358821091611845; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xám, số IMEL: 353890102154546 bị cáo A, bị cáo M1 và H2 sử dụng để trao đổi mua bán ma túy nên cần tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 1.000.000 đồng bị cáo Hà Hải A và bị cáo Nguyễn Hồng M1 thu lời bất chính từ việc bán ma túy cho H2 cần phải truy thu (Kỷ phần mỗi bị cáo 500.000 đồng);

Đối 01 (một) điện thoại di động OPPO, màu đen, số IMEL: 866451064918079, có gắn sim số 0865599211 và sim số 0335171479. Là điện thoại của chị H2 dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội nên nên cần được trả lại cho chị H2 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBALE, màu nâu, đen, đã qua sử dụng, BKS: 19K1 – 155.56. Đây là tài sản hợp pháp của anh H1 việc bị cáo A và bị cáo M1 dùng chiếc xe trên để đi mua bán ma tuý anh H1 không biết nên cần được trả lại cho ông H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 BLTTHS; Điều 331 và điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Hà Hải A, Nguyễn Hồng M1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hà Hải A 27 ( Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 19/01/2025.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng M1 26 ( Hai mươi sáu) háng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu để tiêu hủy: 01 túi niêm phong số 92/KL-KTHS đỏ của Phòng K Công an tỉnh P bên trong có 0,006 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định;

  • 01 (một) nắp chai bằng nhựa, màu vàng, đục thủng 02 lỗ; 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa (một nửa màu xanh, một nửa màu trắng); 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ.
  • 01 (một) bật lửa ga màu vàng Anh và M1 dùng để sử dụng ma tuý;
  • Sim số 0967819334; 0348342211; 0979442826 .

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, số IMEI: 355846084163366; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đỏ cam, số IMEI: 358821091611845; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xám, số IMEL: 353890102154546

- Truy thu của Hà Hải A và Nguyễn Hồng M1 số tiền 1.000.000 đồng thu lời bất chính từ việc bán ma túy cho H2 (Kỷ phần mỗi bị cáo 500.000 đồng);

- Trả lại cho Lê Hồng H2 01 (một) điện thoại di động OPPO, màu đen, số IMEL: 866451064918079, có gắn sim số 0865599211 và sim số 0335171479.

- Trả lại cho ông Nguyễn Phi H1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBALE, màu nâu, đen, đã qua sử dụng, BKS: 19K1 – 155.56

Về án phí: điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hà Hải A và bị cáo Nguyễn Hồng M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh PT;
  • - VKSND thị xã Phú Thọ;
  • - Cơ quan THAHS
  • - Chi cục THADS thị xã Phú Thọ;
  • - Trại tam giam CA tỉnh Phú Thọ;
  • tỉnh Phú Thọ;
  • - Văn phòng CQCS điều tra Công an tỉnh.
  • Phú Thọ.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: HS+VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger