Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST

Ngày 04/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh
  • - Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Dư Thị Út
    2. Bà Khưu Liên Dung
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Cụt; Sinh ngày: 15/7/2006 tại Bạc Liêu; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trí K, sinh năm: 1987 và bà Danh N, sinh năm: 1986; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: 02 lần:

  • + Lần 1: Ngày 27/7/2022, Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu quyết định đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 06 tháng, chấp hành xong ngày 08/6/2023.
  • + Lần 2: Ngày 10/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu quyết định đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 09 tháng, chấp hành xong ngày 12/8/2024 .

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay. (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Ông Châu Phi Đ – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 18/9/2024, do muốn sử dụng ma túy nên bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ xám đen, biển kiểm soát 69K6-3153 đến hẻm đường H thuộc khóm F, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu gặp người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 bịch ma túy và 01 ống phễu thủy tinh được quấn bên ngoài bằng miếng khăn giấy màu trắng cùng 01 sợi dây thun màu vàng và 01 ống nhựa màu hồng (dụng cụ sử dụng ma túy) với giá 300.000 đồng. Trên đường về đến trước đèn tín hiệu giao thông đường T thuộc khóm A, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu thì bị lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy kết hợp với Công an phường G, thành phố B bắt quả tang lúc 15 giờ 40 phút cùng ngày, đồng thời thu giữ: trên tay phải của bị cáo T 01 bịch nylon màu trắng có đường viền màu xanh kích thước 2,5cm x 1,7cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy; lưng quần phía trước bên phải bị cáo T đang mặc 01 ống phễu thủy tinh được quấn bên ngoài bằng miếng khăn giấy màu trắng cùng 01 sợi dây thun màu vàng và 01 ống nhựa màu hồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ xám đen, biển kiểm soát 69K6-3153.

Kết luận giám định số: 115/KL-KTHS, ngày 27/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: “Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong 01 bịch nylon (kí hiệu M) là chất ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng là 0,20228 gam."

Cáo trạng số 09/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • + Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
    • + Về xử lý vật chứng:
    • Đối với số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,18454 gam, loại Methamphetamine là vật cấm lưu hành cùng toàn bộ các vỏ phong bì, bao gói nilon, 01 ống phễu thủy tinh được quấn bên ngoài bằng miếng khăn giấy màu trắng cùng 01 sợi dây thun màu vàng và 01 ống nhựa màu hồng do là vật không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định.

    • + Về án phí: Miễn án phí do bị cáo thuộc gia đình hộ cận nghèo.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối cải. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến gì khác.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ văn hóa thấp, phạm tội lần đầu, là người khuyết tật để xem xét xử phạt mức án nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng bị cáo T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nội dung vụ án: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ chứng minh: Vào lúc 15 giờ 40 phút, ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại đường T, khóm A, phường C, thành phố B, bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine với khối lượng là 0,20228 gam, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là thanh niên, có sức khỏe, lẽ ra phải chí thú làm ăn để lo cho bản thân và gia đình, nhưng lại sa vào con đường nghiện hút dẫn đến phạm tội. Bản thân bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không có ý thức sửa đổi mà lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, đồng thời nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Đối với người bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

[6.1] Đối với số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,18454 gam, loại Methamphetamine là vật cấm lưu hành cùng toàn bộ các vỏ phong bì, bao gói nilon, 01 ống phễu thủy tinh được quấn bên ngoài bằng miếng khăn giấy màu trắng cùng 01 sợi dây thun màu vàng và 01 ống nhựa màu hồng do là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6.2] Đối với một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ xám đen, biển kiểm soát 69K6 - 3153 là của của anh Lê Hoàng V, sinh ngày 01/01/1975, nơi cư trú: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, xét thấy không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho anh V là phù hợp.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố B về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với các bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí theo quy định.

[9] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác: C) 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 22 tháng 9 năm 2024.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,18454 gam, loại Methamphetamine và toàn bộ các vỏ phong bì, bao gói nilon, 01 ống phễu thủy tinh được quấn bên ngoài bằng miếng khăn giấy màu trắng cùng 01 sợi dây thun màu vàng và 01 ống nhựa màu hồng.

Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/3/2025).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Trinh

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bạc Liêu, ngày 04 tháng 3 năm 2025

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ..... giờ ...... phút ngày 04 tháng 3 năm 2025

Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • * Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng T1.
  • * Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Dư Thị Ú
    2. Bà Khưu Liên D

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về điều luật áp dụng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự

Kết quả biểu quyết: 03/03

2. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 22 tháng 9 năm 2024.

Kết quả biểu quyết: 03/03

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,18454 gam, loại Methamphetamine và toàn bộ các vỏ phong bì, bao gói nilon, 01 ống phễu thủy tinh được quấn bên ngoài bằng miếng khăn giấy màu trắng cùng 01 sợi dây thun màu vàng và 01 ống nhựa màu hồng.

Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu.

Kết quả biểu quyết: 03/03

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết: 03/03

5. Về quyền kháng cáo:

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/3/2025).

Kết quả biểu quyết 03/03.

Nghị án kết thúc vào hồi ..... giờ .......phút ngày 04 tháng 3 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dư Thị Út

Khưu Liên Dung

Ngô Hồng T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger