|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 25/2025/HS-PT Ngày 28/02/2025. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Anh và bà Đoàn Thị Kiều Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 183/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Phan Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đối với:
Họ và tên: Phan Văn L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 30/12/1991 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phan Văn C, sinh năm 1967 và bà Lê Thị T, sinh năm 1968; có vợ Trần Thị S, sinh năm 1990 và 04 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Cao Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An không kháng cáo, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trong quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 17/4/2024, sau khi đã sử dụng bia rượu, Phan Văn L đi bộ từ nhà đến quán ăn “V”, địa chỉ xóm C, xã D, huyện D của chị Cao Thị H với mục đích để mượn tiền. Khi vào quán, L gặp chị H và hỏi: “H ơi, có tiền không? Cho anh mượn ít triệu, vài hôm anh trả”; chị H trả lời: “Dạo này không có, tiền em cho họ vay với trả tiền hàng hết rồi, anh thông cảm” thì L ra khỏi quán đứng một lúc. Khoảng 05 phút sau, L quay lại quán tiếp tục hỏi mượn tiền chị H nhưng bị chị H từ chối. Lúc này, giữa hai người có lời qua tiếng lại, do L say rượu không làm chủ được bản thân và nghĩ rằng chị H xem thường mình nên L nảy sinh ý định đánh chị H. Lĩnh nhìn thấy trên kệ sắt nằm sát cạnh cửa sau đi ra khu vực giếng của quán có 01 (một) chiếc dao chặt thịt lưỡi dao làm bằng kim loại màu xám nên L dùng tay phải cầm chiếc dao và đi vào khu vực giếng nơi chị H đang làm việc. Tại đây, L nói với chị H: “Tao đập chết bà mày luôn, mày biết tính tao chưa?”, đồng thời L đưa dao lên chém 01 (một) phát từ trên xuống dưới về phía chị H, chị H cúi người né được nên không bị thương. Lúc này phần lưỡi dao bị tụt khỏi cán dao văng xuống sọt nhựa đựng bát đũa trên nền nhà, L tiếp tục dùng tay (tay trái) đấm 01 (một) phát vào vùng thái dương phải của chị H làm chị H bị 01 (một) vết thương sưng nề. Tiếp đến,L cầm cán dao ở tay phải đánh liên tiếp vào vùng mặt, người chị H làm chị H bị thương, cụ thể: 01 (một) vết thương xây xát trên mi trên mắt bên trái; 01 (một) vết thương dưới mi dưới mắt bên trái, rách da, chảy máu; 01 (Một) vết sưng nề vùng má phải, không rách da, không chảy máu; 01 (một) vết sưng nề vùng xương hàm phải, không rách da, không chảy máu; 01 (một) vết sưng nề vùng cằm, không rách da, không chảy máu; 01 (một) vết thương sưng nề, xây xát da vùng khuỷu tay trái; 01 (một) vết xây xát da vùng cẳng tay trái. Sau đó, chị H bỏ chạy ra khỏi quán nên L cầm cán dao vứt vào khu vực kệ sắt, rồi L đi về nhà, còn chị H được đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện D để điều trị từ ngày 17/4/2024 đến ngày 19/4/2024.
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 200/KLTTCT-TTPY ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Trung tâm Pháp y- Sở Y, kết luận: Một sẹo vết thương phần mềm dưới mi dưới mắt bên trái và một vết xước da 1/3 dưới sau cẳng tay bên trái, không ảnh hưởng chức năng. Thái dương bên phải, má bên phải, cằm bên phải, khuỷu tay bên trái hiện tại không có dấu vết tổn thương, không để lại di chứng. Xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Cao Thị H tại thời điểm giám định là: 03% (ba phần trăm).
Bản cáo trạng số 129/CT-VKS-DC ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, quyết định: Căn cứ điểm a, i khoản 1 điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn L 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 19/8/2024 bị cáo Phan Văn L làm đơn kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn L, giữ nguyên mức hình phạt và bản án sơ thẩm: Căn cứ điểm a, i khoản 1 điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51; điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn L 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng.
Bị cáo Phan Văn L không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn L được làm trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phan Văn L thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, diễn biến hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ trong vụ án, có căn cứ xác định: Vào khoảng 21 giờ 15 phút ngày 17/4/2024, tại quán ăn “V" thuộc xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; xuất phát từ việc không vay được tiền, Phan Văn L đã có hành vi dùng một cán dao loại tròn làm bằng gỗ được bọc kim loại hai đầu và dùng tay đánh vào người chị Cao Thị H gây thương tích phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện D từ ngày 17/4/2024 đến ngày 19/4/2024,với tỷ lệ giám định tổn thương cơ thể là 03 % (Ba phần trăm). Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phan Văn L 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự là có cơ sở và đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phan Văn L: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, mặc dù không có mâu thuẫn gì với chị H nhưng xuất phát từ việc không vay được tiền nên Phan Văn L đã sử dụng vũ lực đánh chị Cao Thị H, thể hiện sự coi thường pháp luật cũng như sức khỏe và tính mạng của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo xử phạt bị cáo 09 tháng tù là có cơ sở và đúng pháp luật. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chủ động bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ nghiêm. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội đã biết ăn năn hối cải, tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội tự cải tạo và trở thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa.
[4] Án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn L, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Căn cứ điểm a, i khoản 1 điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51; điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phan Văn L cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩavụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thểquyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bảnán đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thựchiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 25/2025/HS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 25/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn L phạm tôi cố ý gây thương tích
