|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/HS-PT Ngày: 23 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Phong
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Quý Chi
Bà Lê Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Trần Cao T.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2025/HS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Cao T, sinh năm 1993, tại tỉnh An Giang.
Hộ khẩu thường trú: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi tạm trú và nơi ở hiện tại: Tổ F, khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D, sinh năm 1968 và bà Dương Thị N, sinh năm 1964; Tiền án: không có; Tiền sự: Không có; Về nhân thân: Không.
Ngày 07/11/2024, bị khởi tố về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/11/2024 cho đến nay.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Nguyễn Đình P, Văn phòng L chi nhánh huyện Đ – Thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: số A, ĐT G, tổ C, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; (có mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Cao T có Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 24/06/2020, có giá trị: không thời hạn.
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/7/2024, sau khi hết giờ làm việc tại Công ty TNHH L1 (Công ty L2), địa chỉ: Đường D, khu công nghiệp B, T điều khiển xe mô tô biển số 67M1 - 650.49 đi về phòng trọ tại khu phố C, phường H, thị xã C. Khi ra khỏi cổng công ty, T điều khiển xe mô tô rẽ phải, lưu thông trên đường D khoảng 500 mét thì hết dải phân cách. T điều khiển xe mô tô vòng lại theo dải phân cách, tiếp tục lưu thông trên đường D hướng khu phố D, phường M đi khu phố C, phường M, thị xã C, trên làn đường sát lề đường dành cho xe mô tô. Khi chạy đến cách ngã tư giao nhau giữa đường D và đường N thuộc khu phố D, phường M, thị xã C khoảng 100 mét, T bất ngờ điều khiển xe mô tô chuyển hướng rẽ trái để đi vào đường N. Do chuyển hướng bất ngờ, không mở đèn tín hiệu và không quan sát phía sau nên không nhìn thấy anh Trần Hoài Bảo H điều khiển xe mô tô biển số 60AD - 117.62 lưu thông phía sau cùng chiều trên đường D, tại làn đường sát dải phân cách dành cho xe ô tô, để bên trái xe mô tô của T va quẹt vào đầu xe mô tô của anh H, xảy ra tai nạn giao thông. Sau tai nạn giao thông, anh Trần Hoài Bảo H được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố H. Đến khoảng 16 giờ 40 cùng ngày thì chết tại Bệnh viện. (Bút lục 24-28)
- - Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn lúc 08 giờ 29 phút ngày 05/07/2024 của Phòng khám Đ, đối với Trần Hoài Bảo H: Dưới ngưỡng phát hiện (không sử dụng chất có nồng độ cồn).
- - Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở lúc 08 giờ 10 phút ngày 05/07/2024 của Cảnh sát giao thông Công an thị xã C, đối với Trần Cao T: 0,000 mg/ 1 lít khí thở (không sử dụng chất có nồng độ cồn).
- - Kết quả xét nghiệm chất ma tuý ngày 05/07/2024 của Công an phường M, đối với Trần Cao T: Âm tính (không sử dụng chất ma tuý)
- - Kết quả trích lục xét nghiệm chất ma tuý ngày 18/7/2024 của Bệnh viện C đối với Trần Hoài Bảo H: Không sử dụng chất ma tuý
- Kết luận giám định pháp y về tử thi số 543/KLGĐTT-2024 ngày 12/08/2024 của phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Trần Hoài Bảo H chết do bị đa chấn thương. (Bút lục 42-50)
- Kết luận định giá tài sản số 78/KLĐG-HĐĐGTS ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản, xác định: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 60AD - 117.62 là 7.600.000 đồng (Bút lục 102-106).
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 05/07/2024 xác định các dấu vết cơ bản dẫn đến vụ tai nạn giao thông như sau:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là giao lộ giữa đường D và đường N, khu công nghiệp B thuộc khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
3
Đoạn đường bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất. Khu vực xảy ra tai nạn giao thông là giao lộ, khoảng cách hai đầu giải phân cách qua lại trên đường D rộng 42,75m. Mặt đường D1B rộng 33,5m. Khu vực xảy ra tai nạn giao thông có lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng bên trái đường đang hoạt động bình thường, có hệ thống thoát kín; mặt đường khô ráo bằng phẳng không có ổ gà ổ voi, chướng ngại vật trên mặt đường.
Sau tai nạn giao thông hiện trường để lại các dấu vết như sau:
- - Vị trí xe mô tô biển số: 67M1-650.49 sau tại nạn giao thông: Xe ở tư thế nằm ngả về bên trái. Đầu xe quay về hướng khu phố D, phường M, đuôi xe quay về hướng khu phố C, phường M. T1 trục bánh trước cách mép đường chuẩn 11,90m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 12,35m. Điểm chuẩn trụ điện số 37A nằm cách tâm trục bánh sau xe mô tô biển số: 67M1-650.49 dài 38,63m.
- - Vị trí xe mô tô biển số 60AD - 117.62 sau tại nạn giao thông: Xe ở tư thế nằm ngả về bên phải. Đầu xe quay về hướng khu phố D, phường M, đuôi xe quay về hướng khu phố C, phường M. T1 trục bánh trước cách mép đường chuẩn 20m50, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 21,60m. Điểm chuẩn trụ điện số 37A nằm cách tâm trục bánh trước xe mô tô biển số: 60AD-117.62 dài 28,30m.
- Khoảng cách từ tâm trục bánh sau xe mô tô BS: 67M1-650.49 cách trục bánh trước xe mô tô biển số 60AD-117.62 dài 40,53m.
- - Vị trí vết máu nạn nhân có kích thước 0,30m x 0,16m, tâm cách mép đường chuẩn là 13,50m và cách trụ biển báo chỉ dẫn đường dài 1,90m. Điểm chuẩn trụ điện số 37A nằm cách tâm vết máu dài 22,75m.
- - Vị trí vết cày xe mô tô biển số 67M1-650.49 có chiều hướng khu phố D, phường M đi khu phố C, phường M. Vết cày có chiều dài là 7,15m. Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 11,52m. Điểm cuối trùng với đầu trục gác chân bên phải; đầu trục này cách mép đường chuẩn 12,23m. Điểm chuẩn trụ điện số 37A nằm cách đầu vết cày xe mô tô biển số 67M1 - 650.49 dài 45m.
- - Vị trí vết cày xe mô tô biển số 60AD- 117.62 nằm trên đầu dải phân cách đường D1B. Vết cày có chiều dài 8,2m. Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 17,10m, điểm cuối trùng với đầu trục gác chân trước bên trái; đầu trục này cách mép đường chuẩn 21,2m.
Kết quả khám phương tiện: xe mô tô biển số 67M1-650.49, màu sơn: xanh đen, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Exciter.
- - Ốp bảo vệ đầu xe bên trái trầy xước kích thước 0,15m x 0,14m; điểm cao cách mặt đường 1,40m, điểm thấp cách mặt đường 0,98m.
- - Cần gương chiếu hậu bên trái cong từ trên xuống, điểm cong cách mặt đường 1,02m;
- - Yếm chắn gió bên trái bung hở kích thước 0,65x 0,06m, điểm cao cách mặt đường 0,70m, điểm thấp cách mặt đường 0,60m.
Kết quả khám phương tiện: xe mô tô biển số 60AD-117.62, màu sơn: Trắng
4
xám đen, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Exciter.
- - Tay lái cong lệch từ trái qua phải 90°.
- - Mặt nạ bên phải trầy xước kích thước 0,20m x 0,10m, điểm cao cách mặt đường 0,78m, điểm thấp cách mặt đường 0,64m.
- - Phuộc bánh trước bên phải, bên trái, cong từ trái qua phải 45°, điểm cong cách mặt đường 0,60m.
- - Yếm chắn gió bên phải bung hở.
- - Lốc máy bên phải bể vỡ kim loại kích thước 0,10m x 0,08m, điểm cao cách mặt đường 0,30m, điểm thấp cách mặt đường 0,20m.
Quá trình điều tra thu giữ các vật chứng sau:
- - 01 xe mô tô biển số 60AD - 117.62 tạm giữ của nạn nhân Trần Hoài Bảo H; 01 xe mô tô biển số 67M1 - 650.49 tạm giữ của bị can Trần Cao T; Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho người đại diện của bị hại và bị cáo (Bút lục 115-116).
- - 01 giấy phép lái xe hạng A1 của Trần Cao T số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 24/06/2020, có giá trị: không thời hạn.
- - 01 đĩa CD ghi âm, ghi hình hỏi cung Trần Cao T.
Trong quá trình điều tra, truy tố Trần Cao T đã khai nhận rõ hành vi Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ xảy ra ngày 05/7/2024.
Trách nhiệm dân sự:
Sau tai nạn, Trần Cao T đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của anh Trần Hoài Bảo H là bà Nguyễn Thanh T2 số tiền 40.000.000 đồng chi phí mai táng và bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng. Bà T2 không yêu cầu bồi thường gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2025/HS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Cao T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Cao T 01 (một) năm tù, tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/3/2025 bị cáo Trần Cao T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm nhận định và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
5
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Cao T, sửa Bản án sơ thẩm số 28/2025/HS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Xử phạt bị cáo Trần Cao T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Cao T, sửa Bản án sơ thẩm số 28/2025/HS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Xử phạt bị cáo Trần Cao T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Cao T được thực hiện trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các điều 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Cao T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã xác định. Xét lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nhau, có đủ căn cứ xác định: Trần Cao T có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] được Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp ngày 24/6/2020, có giá trị không thời hạn. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/7/2024, sau khi hết giờ làm việc tại Công ty TNHH L1 (Công ty L2), địa chỉ: Đường D, khu công nghiệp B, T điều khiển xe mô tô biển số 67M1 - 650.49 đi về phòng trọ tại khu phố C, phường H, thị xã C. Khi ra khỏi cổng công ty, T điều khiển xe mô tô rẽ phải, lưu thông trên đường D khoảng 500 mét thì hết dải phân cách. T điều khiển xe mô tô vòng lại theo dải phân cách, tiếp tục lưu thông trên đường D hướng khu phố D, phường M đi khu phố C, phường M, thị xã C, trên làn đường sát lề đường dành cho xe mô tô. Khi chạy đến cách ngã tư giao nhau giữa đường D và đường N thuộc khu phố D, phường M, thị xã C khoảng 100 mét, T bất ngờ điều khiển xe mô tô chuyển hướng rẽ trái để đi vào đường N. Do chuyển hướng bất ngờ, không mở đèn tín hiệu và không quan sát phía sau nên không nhìn thấy anh Trần Hoài Bảo H điều khiển xe mô tô biển số 60AD - 117.62 lưu thông phía sau cùng chiều trên đường D, tại làn đường sát dải phân cách dành cho xe ô tô, để bên trái xe mô tô của T va quẹt vào đầu xe mô tô của anh H, xảy ra tai nạn giao thông. Sau tai nạn giao thông, anh Trần Hoài Bảo H được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố H. Đến khoảng 16 giờ 40 cùng ngày thì chết tại Bệnh viện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trần Cao T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định:
6
Tại Tòa án cấp sơ thẩm bị cáo đã được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình sự như: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã bồi thường chi phí sửa xe mô tô bị hư hỏng và chi phí mai táng 40.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu Huân chương hạng nhất của ông Trần Văn T3 bà Bùi Thị H1 là ông bà nội của bị cáo là người có công cách mạng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được xem xét cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng tại địa chỉ tổ F, khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo xác nhận của Công an phường H; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa một phần bản sơ thẩm về phần hình phạt theo hướng giữ nguyên mức hình phạt 01 năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định với thời gian thử thách 02 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm nhằm thể hiện sự khoan hồng pháp luật đối với bị cáo.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo T không phải chịu.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Cao T.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt bị cáo Trần Cao T.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Cao T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Trần Cao T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
7
Giao bị cáo Trần Cao T cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
(Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo biết)
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Cao T không phải chịu.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Viết Phong |
Bản án số 25/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 25/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Cao Tài. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt bị cáo Trần Cao Tài. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trần Cao Tài phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Trần Cao Tài 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Trần Cao Tài cho Ủy ban nhân dân phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
