TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HS-PT
Ngày: 19/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Vinh
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Long
Ông Phan Vĩnh Chuyển
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 19 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 233/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thị S (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 20/10/1959 tại Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKNKTT: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: K N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; trình độ văn hóa: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; con ông Trần Đình T (đã chết) và bà Hồ Thị C (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết với anh Ngô Đức N là người bán thịt heo tại chợ C1, để có tiền trả nợ và gửi cho con trai chữa bệnh, trong khoảng thời gian từ ngày 28.11.2023 đến 10.3.2024, bị cáo Trần Thị S đã đưa ra thông tin cho anh N là con trai bị cáo có 02 trường học ở tỉnh Quảng Nam nên cần mua thịt heo với số lượng lớn. Tin lời bị cáo nên anh N đồng ý bán thịt heo và cho bị cáo S trả dần. Để có nơi tiêu thụ thịt heo, bị cáo nói với bà Trần Thị Thu T1 làm nghề bán bánh bèo là bị cáo có chị gái làm lò mổ heo ở Huế gửi thịt vào bán nên bán giá rẻ, bà T1 tưởng thật nên đồng ý mua.
Trong khoảng thời gian từ 28.11.2023 đến tháng 3.2024, anh N đã giao thịt cho bà S 47 lần, mỗi lần mua từ 10 kg đến 40 kg, tổng khối lượng là 1.070 kg, đơn giá 95.000 đồng/kg, tổng số tiền là 101.650.000 đồng. Sau mỗi lần nhận thịt, bà S đem bán cho bà T1 với giá 60.000.000 đồng, bà T1 đã trả cho bà S tổng cộng 34.000.000 đồng. Số tiền có được bị cáo đã trả nợ cá nhân và cho con trai là anh Trần Đình S1. Bị cáo đã trả cho anh N 24.400.000 đồng.
Ngày 12.3.2024 anh N phát hiện thông tin bị cáo đưa ra không đúng sự thật nên đã trình báo công an phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Vật chứng thu giữ: 47 tờ biên nhận giao thịt heo.
Theo kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐ ĐGTS ngày 16.4.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận H kết luận: 335 kg thịt heo mông và vai tại thời điểm tháng 01.2024 có trị giá 38.190.000 đồng,
Theo kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐ ĐGTS ngày 16.4.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận H kết luận: 295 kg thịt heo mông và vai tại thời điểm tháng 02.2024 có trị giá 35.105.000 đồng,
Theo kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐ ĐGTS ngày 16.4.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận H kết luận: 90 kg thịt heo mông và vai tại thời điểm tháng 3.2024 có trị giá 9.540.000
2
Theo kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐ ĐGTS ngày 16.4.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận H kết luận: 40 kg thịt heo mông và vai tại thời điểm tháng 11.2023 có trị giá 4.120.000 đồng,
Theo kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐ ĐGTS ngày 16.4.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận H kết luận: 310 kg thịt heo mông và vai tại thời điểm tháng 12.2023 có trị giá 34.410.000 đồng,
Như vậy theo các kết luận định giá tài sản trên thì tổng giá trị tài sản anh N giao cho bị cáo là 121.365.000 đồng trong đó có 38 lần trên 2.000.000 đồng. Bị cáo đã trả cho anh N 24.400.000 đồng.
Tại bản án sơ thẩm số 128/2024/HSST ngày 17/9/2024 của TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Trần Thị S 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 01/10/2024, bị cáo Trần Thị S có đơn kháng cáo với nội dung: Xin Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Trần Thị S vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị S thì thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Thị S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, hoàn cảnh của bị cáo là đặc biệt khó khăn, bị cáo đã lớn tuổi, con trai của bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo. Thực tế tiền thu lợi của bị cáo chỉ 9.600.000 đồng. Mặc dù bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng những
3
lần phạm tội của bị cáo đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Xét thấy bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách cũng đủ giáo dục bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có đủ căn cứ để khẳng định:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Thị S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có cơ sở khẳng định: Do có quen biết với anh Ngô Đức N là người bán thịt heo tại chợ C1, thành phố Đà Nẵng. Để có tiền sử dụng vào việc cá nhân, bị cáo đã nói dối với ông N là con bị cáo có trường học ở Quảng Nam có thể thường xuyên tiêu thụ được số lượng lớn thịt heo của anh N. Anh N hoàn toàn tin tưởng nên đã 47 lần cung cấp thịt cho bị cáo, trong khoảng thời gian từ ngày 28/11/2023 đến ngày 10/3/2024 với tổng là 1.047kg. Số tiền bị cáo chiếm đoạt là 101.650.000 đồng. Bị cáo thoả thuận với anh N mua vào 95.000 đồng/kg và bán ra cho bà T1 với giá 60.000 đồng. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Thị S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Xét đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị S, HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, bị cáo lừa đảo chiếm đoạt số tiền lớn gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Mặc dù, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và đã lớn tuổi nhưng chưa đủ 70 tuổi để được xem là người cao tuổi để được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật. Bị cáo cho rằng con bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo nhưng vẫn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Về hành vi phạm tội, trong thời gian rất ngắn, bị cáo đã liên tục thực hiện hành vi phạm tội, trong đó có 38 lần giá trị chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng. Mặt khác, hiện nay bị cáo không
4
có nơi cư trú ổn định, chưa hoàn thành nghĩa vụ bồi thường trách nhiệm dân sự cho người bị hại. Do đó, bị cáo không có đủ điều kiện để áp dụng hình phạt tù có điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo. Bản án sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 BLHS áp dụng mức hình phạt 01 năm tù là đã xem xét nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Vì vậy, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Do không được chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo Trần Thị S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị S, sửa Bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thị S 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Thị S phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Vinh |
6
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Các Thẩm phán | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
7
Bản án số 25/2025/HS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 25/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong các ngày 18 và 19 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 233/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo
