Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 30 tháng 9 năm 2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đình Sở và bà Triệu Thị Hai;
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Đình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Phú thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 20 25 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST HNGĐ ngày 1 0/9/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 29A/2025/QÐST – HNGĐ ngày 19/9/2025;

Nguyên đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Khu I, xã T, tỉnh Phú Thọ;

Bị đơn: Anh Đinh Văn Q (tên gọi khác Đinh Ngọc Q1), sinh năm 1981 (vắng mặt không có lý do);

Địa chỉ: Xóm N, xã V, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/5/2025 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Lương Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 22/11/2002, chị và anh Q1 đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ, nay là xã T, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do hai bên bất đồng quan điểm sống. Chị và anh Q1 đã ly thân được mười năm, kể từ thời điểm đó chị và anh Q1 chấm dứt mọi mối quan hệ. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ, cho chị ly hôn với anh Q1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 01 (một) con chung là cháu: Đinh Ngọc C, sinh ngày 23/01/2005. Hiện cháu C đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Do đó, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Về phía bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Q1 không có mặt nên chưa có lời trình bày.

[3]. Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/9/2025, ông Đinh Ngọc H1 là bố đẻ anh Q1 trình bày: Anh Q1 đang sinh sống cùng gia đình ông H1, anh Q1 có mặt tại địa phương, anh Q1 đã nhận được đầy đủ các văn bản tống đạt của Tòa án, nhưng do tính chất công việc là lái xe nên thường xuyên phải đi xa nên không thể có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Vợ chồng anh Q1, chị H có đăng ký kết hôn vào năm 2002, đã ly thân được mười năm. Nay chị H xin ly hôn, gia đình tôn trọng mọi quyết định của anh Q1 và chị H.

[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Chị H và anh Quy kết H2 với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Q1 là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều khoản 1, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Về con chung: Đã thành niên và có khả năng lao động nên Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí dân sự, chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị H có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ nay là Tòa án khu vực 7 – Phú Thọ cho chị ly hôn với anh Q1, căn cứ khoản 1, Điều 28, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung bằng văn bản số: 99/VBHN – VBQH ngày 26/8/2025 (dưới đây viết tắt là BLTTDS) thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.

Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án nhưng cố ý vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không hòa giải được theo quy định tại khoản 2, Điều 207 của BLTTDS và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Bị đơn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 1, khoản 3, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của BLTTDS, Tòa án nhân dân khu vực 7 Phú Thọ xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ngày 22/11/2002, chị H và anh Q1 đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ). Quan hệ hôn nhân giữa hai bên được xác lập là hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn, người thân thích của Bị đơn và chính quyền địa phương nơi đương sự cư trú đều xác nhận vợ chồng tồn tại nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, hai bên đã ly thân khoảng mười năm.

Theo hướng dẫn tại điểm a, khoản 3, Điều 4 của Nghị Quyết số 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng”;

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh Q1 đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đinh Ngọc C, sinh ngày 23/01/2005. Khi ly hôn, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con vì cháu C đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân.

Dựa trên chứng cứ do Nguyên đơn cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập đủ căn cứ để xác định hiện cháu C thành niên, có khả năng lao động nên Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị H, không xem xét việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp.

[4]. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Anh Q1, chị H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.

[5]. Về án phí: Chị H là Nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh Q1 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng các khoản 1, Điều 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Áp dụng khoản 1, Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 khoản 4, Điều 147, khoản 1, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 1, Điều 273 của BLTTDS.
  • Áp dụng điểm a, khoản 5, Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị H được ly hôn với anh Đinh Văn Q.
  2. Về con chung: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lương Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận ngày 08/5/2025, chị H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai số 0001926 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn (cũ), nay được chuyển thành án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh Q có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
  6. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND khu vực 7 – Phú Thọ;
  • - Cơ quan THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Tu Vũ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tân Khải Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ – ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ về ly hôn

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HNGĐ - ST
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger