Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-6-2025

V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Bẩy.
  • Bà Vũ Thị Mai.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 132/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Lý Văn T, sinh năm 1978 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Thôn T, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bị đơn: Chị Phùng Thị H, sinh năm 1979 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  • Nơi thường trú: Thôn Trung Mới, xã Kiên Thành, thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
  • Nơi ở: Thôn Bản Mùi Phú, xã Kiên Thành, thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 25-4-2025, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là anh Lý Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phùng Thị H kết hôn với nhau vào năm 1997. Do hiểu biết pháp luật kém nên không đi đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà chỉ chung sống như vợ chồng. Đến đầu năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị H có đi quan hệ bên ngoài, cuộc sống chung không có hạnh phúc, đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị H.

Về con chung: Anh và chị H có hai con chung là cháu Lý Văn S, sinh năm 1999, cháu Lý Thị N, sinh năm 2001. Các con chung đều đủ 18 tuổi nên không yêu cầu không đề nghị giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/6/2025, bị đơn chị Phùng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T kết hôn vào nawm1 997, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Tuy nhiên do chưa hiểu biết pháp luật rõ ràng nên không đến UBND xã K làm thủ tục đăng ký kết hôn. Cuộc sống chung ban đầu hạnh phúc, đến năm 2022 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc. Nay anh T làm đơn đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng thì chị nhất trí, không có ý kiến gì thêm.

Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là Lý Văn S, sinh năm 1999 và Lý Thị N, sinh năm 2001. Hiện nay các con đều trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn là anh Lý Văn T, bị đơn chị Phùng Thị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 238, 271, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 14, 51, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lý Văn T, không công nhận anh Lý Văn T và chị Phùng Thị H là vợ chồng. Ngoài ra còn đề nghị về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

2

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Lý Văn T có đơn khởi kiện về việc không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị Phùng Thị H. Bị đơn chị Phùng Thị Hồng cư T1 tại xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lý Văn T, bị đơn chị Phùng Thị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt anh T, chị H.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo lời trình bày của đương sự thì thấy anh Lý Văn T và chị Phùng Thị H tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương từ năm 1997 nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang thì không có thông tin đăng ký kết hôn giữa anh T, chị H. Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Lý Văn T và chị Phùng Thị H không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Trong quá trình chung sống, anh Lý Văn T, chị Phùng Thị H đều xác định đã phát sinh mâu thuẫn, đã sống ly thân một thời gian dài và đều đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Lý Văn T và chị Phùng Thị H theo quy định tại Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Anh Lý Văn T và chị Phùng Thị H có hai con chung là Lý Văn S, sinh năm 1999, cháu Lý Thị N, sinh năm 2001. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, anh T và chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Anh Lý Văn T và chị Phùng Thị H đều trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-

3

2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Lý Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 9, 14, 51 và 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 6 và 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lý Văn T: Không công nhận anh Lý Văn T và chị Phùng Thị H là vợ chồng.

2. Về án phí: Anh Lý Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0003197 ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Lý Văn T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Lý Văn T, bị đơn chị Phùng Thị H không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Chũ;
  • - Chi cục THADS thị xã Chũ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Ngọc Minh

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 132/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger