|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28-5-2025 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Ông Vũ Khắc Quế
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 389/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nông Thị H, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số nhà A đường P, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến B, sinh năm 1980; Số nhà 1 đường P, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 28/10/2024 và những lời trình bày của nguyên đơn bà Nông Thị H thể hiện như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nông Thị H và ông Nguyễn Tiến B đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 26/8/2009. Hôn nhân tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến đầu năm 2024 thì bà H phát hiện ông B tụ tập chơi bời bài bạc, lô đề, không lo làm ăn, mỗi khi về nhà là kiếm cớ gây sự và đánh đập vợ, con nên vợ chồng không hòa hợp được, vợ chồng cũng không có tiếng nói chung, khoảng 06 tháng gần đây ông B không có bất kỳ một khoản đóng góp nào trong việc chi tiêu cho gia đình nên bà H phải tự gánh vác. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên biết nhưng gia đình ông B không khuyên bảo gì ông B mà chỉ nói bà H bỏ qua cho ông B.
Nay bà không còn tình cảm gì với ông B, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 năm vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Nguyễn Tiến B.
- Về con chung: Bà H và ông B có 02 con chung tên Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 01/01/2010 và Nguyễn Đức P, sinh ngày 23/9/2014. Bà H đủ điều kiện nuôi con, có chỗ ở và công việc ổn định nên bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi 02 con chung là cháu  và cháu P, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà H tự thỏa thuận với ông B.
- Về nợ chung: Bà H xác nhận vợ chồng không vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản bản tự khai của bị đơn ông Nguyễn Tiến B trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nông Thị H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 26/8/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, hiện ông không còn tình cảm gì với bà H nên muốn giải quyết ly hôn.
- Về con chung: Ông và bà H có 02 con chung tên Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 01/01/2010 và Nguyễn Đức P, sinh ngày 23/9/2014. Ly hôn ông đồng ý giao 02 con chung cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên; ông đồng ý cấp dưỡng để bà H nuôi con hàng tháng với số tiền là 1.500.000 đồng/cháu/tháng.
- Về tài sản chung: Ông tự thỏa thuận với bà H.
- Về nợ chung: Ông B xác nhận vợ chồng không vay nợ chung.
Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để làm rõ tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Bà H được ly hôn với ông Nguyễn Tiến B. Về con chung giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 01/01/2010 và Nguyễn Đức P, sinh ngày 23/9/2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến khi thành niên; về cấp dưỡng bà H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết, về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết;
- Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án, HĐXX xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn hiện đang cư trú tại Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nông Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Tiến B vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3].Về nội dung vụ án:
[3.1].Về quan hệ hôn nhân: Bà Nông Thị H và ông Nguyễn Tiến B tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 02, quyển số 104/2009 ngày 25/3/2019 đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà Nông Thị H cho rằng từ năm 2024 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông B không lo làm ăn, tụ tập bạn bè chơi bời, bài bạc, lô đề, về nhà là kiếm cớ gây sự, đánh đập vợ, con. Vợ chồng đã ly thân khoảng 01 năm nhưng khoảng 06 tháng vừa qua ông B không đóng góp bất kỳ khoản chi tiêu nào trong gia đình nên bà là người phải gánh vác toàn bộ kinh tế. Do mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng không còn tình cảm, đã sống ly thân 01 năm vì vậy bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.
Ông B thừa nhận vợ chồng sống không được hạnh phúc, ông cũng không còn tình cảm với bà H nên mong muốn được ly hôn.
Qua xác minh từ chính quyền địa phương cho biết giữa bà H và ông B có xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách từ nhiều năm này.
Xét thấy, bà H và ông B đều thừa nhận vợ chồng có xảy ra mâu trong cuộc sống do bất đồng về quan điểm sống, không còn tình cảm, không ai có nhu cầu hàn gắn tình cảm vì vậy mâu thuẫn giữa bà H và ông B đã trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.2].Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Qua lời thừa nhận của bà H, ông B và chứng cứ do các bên xuất trình xác định bà Nông Thị H và ông Nguyễn Tiến B có 02 con chung tên Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 01/01/2010 và Nguyễn Đức P, sinh ngày 23/9/2014.
Ly hôn bà H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung đến khi đủ 18 tuổi, bà H đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Còn ông B cũng đồng ý giao con chung cho bà H nuôi dưỡng, đồng ý cấp dưỡng số tiền 1.500.000 đồng/tháng/cháu.
Xét yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của bà H và ông B: Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện cháu  và cháu P đều có nguyện vọng được ở với bà H và bà H cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu  và cháu P, còn ông B cũng đồng ý giao 02 con chung cho bà H nuôi dưỡng vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con, căn cứ khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của bà H giao cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 01/01/2010 và cháu Nguyễn Đức P, sinh ngày 23/9/2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con ông B đồng ý cấp dưỡng số tiền 1.500.000 đồng/tháng nhưng xét thấy bà H không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3.3]. Về tài sản chung: Bà H, ông B tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3.4]. Về nợ chung: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
[5]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nông Thị H xử cho bà Nông Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Tiến B.
- Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 01/01/2010 và Nguyễn Đức P, sinh ngày 23/9/2014 cho bà Nông Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà H đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
“Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của luật hôn nhân và gia đình”.
- Về án phí: Buộc bà Nông Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng Bà H đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0006080 ngày 07/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Thị Hòa |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hòa |
Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H yêu cầu ly hôn với ông B
