Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 3 - 2025

"V/v ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Bích Thủy
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Xuân và ông Phạm Đức Mạnh
  • - Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2024/TLST - HNGĐ ngày 17/9/2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 12/3/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm: 1996 (vắng mặt)
  • Nơi thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Nơi ở hiện tại: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • - Bị đơn: Anh Đỗ Văn P, sinh năm: 1992 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, lời khai của chị Phạm Thị T trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Chị và anh Đỗ Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sau đám cưới, vợ chồng về chung sống cùng bố mẹ anh P là ông Đỗ Văn N tại thôn Đ, xã Đ, huyện V. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng kết hôn nhiều năm nhưng không có con nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Vợ chồng đã nhiều lần trao đổi để hàn gắn tình cảm nhưng không hòa giải được. Chị đã thuê nhà ra ở riêng từ năm 2019, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh P không có con chung, hiện chị không có thai nghén gì nên chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh P không có tài sản chung nên chị không yêu cầu giải quyết. Về vay nợ: Vợ chồng không nợ ai, không cho ai vay nợ nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Về ruộng nông nghiệp: Vợ chồng chị không có ruộng nông nghiệp nên chị tự nguyện không yêu cầu Toà án giải quyết. Về công sức và các vấn đề khác: Chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Phạm Thị N1 (là mẹ đẻ anh Đỗ Văn P) trình bày: Anh P và chị T là vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống cùng vợ chồng bà tại thôn Đ, xã Đ, huyện V. Đến năm 2019, chị T xin phép vợ chồng bà thuê nhà ra ở riêng. Bà không biết giữa anh chị có mâu thuẫn gì nên bà trao đổi với anh P. Anh P cho biết do vợ chồng có mâu thuẫn trong chuyện con cái nên xảy ra cãi nhau. Anh chị sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Bà đã nhiều lần khuyên bảo, hàn gắn mong anh chị về sống cùng nhau nhưng không có kết quả. Anh P có trao đổi lại với bà: Anh P đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập của Tòa án, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị T ly hôn, anh và chị T không có con chung, không có tài sản chung, không có vay nợ chung nên anh không yêu cầu giải quyết. Do anh bận đi làm xa nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh chị đến Tòa án tham gia phiên họp tiếp cận chứng cứ công khai chứng cứ và hòa giải; anh P mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt nên Tòa án không tiến hành hoà giải được. Do vậy phải đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên toà hôm nay:

Chị T và anh P đều đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm trình bày quan điểm: Toà án thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, lập biên bản hòa giải và đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh P. Về con chung, về tài sản, nợ, ruộng, công sức do anh chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không phải giải quyết. Chị T phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn là chị Phạm Thị T và anh Đỗ Văn P là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn. Chị T khởi kiện ly hôn anh P, anh P cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Qua lời trình bày của nguyên đơn là chị T và người làm chứng là bà N1 – mẹ đẻ anh P cũng như các tài liệu chứng cứ do đương sự giao nộp đã phù hợp với nội dung xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ, nên có đủ căn cứ xác định anh P, chị T đăng ký kết hôn tự nguyện và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn là đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp, chị T khởi kiện ly hôn đối với anh P sẽ được Tòa án xem xét và giải quyết theo thủ tục ly hôn.

Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án thì thấy: Chị T, anh P là vợ chồng, có thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng kết hôn nhiều năm nhưng vẫn chưa có con nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Anh chị đã nhiều lần trao đổi với nhau để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng không hàn gắn được. Bà N1 là mẹ đẻ anh P xác định gia đình đã nhiều lần khuyên bảo anh chị nhưng không có kết quả, anh P và chị T sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tạo điều kiện để anh chị hòa giải hàn gắn hạnh phúc tuy nhiên anh P không đến tham gia phiên hòa giải. Tất cả tình tiết này đã phản ánh đúng thực trạng hôn nhân của anh chị, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài nên sẽ giải quyết cho anh chị ly hôn là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích của anh chị.

[2.2]. Về con chung: Anh chị không có con chung, hiện chị T không có thai nghén gì. Anh chị đều tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung, vay nợ, ruộng nông nghiệp, công sức: Quá trình giải quyết vụ án, anh chị đều thống nhất tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ, ruộng, công sức của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn anh Đỗ Văn P.

[2]. Về con chung, về tài sản, vay nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Không phải giải quyết.

[3]. Án phí: Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 3869 ngày 16/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm. Chị T đã nộp xong án phí sơ thẩm ly hôn.

[4]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục T.H.A DS huyện Văn Lâm;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Đại Đồng;
  • - Lưu HS vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn Thảo Phong
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger