TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST Ngày 26/6/2025 “V/v Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN-TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh.
Các Hội thẩm nhân dân. Ông Trần Tiến Dũng.
Ông Bùi Đức Quảng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đinh Trọng Nho - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2023 về việc Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phùng Thị H, sinh năm 1989.
HKTT: Khu T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Triệu Đức S, sinh năm 1985.
HKTT: Khu L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, và tại các bản tự khai nguyên đơn, chị Phùng Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh S xây dựng gia đình với nhau, trên cơ sở tự nguyện, hai bên làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ năm 2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với bố mẹ anh S tại xã V, huyện T. Tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Sau đó đến khoảng năm 2023 cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế, vợ chồng không còn thông cảm chia sẻ với nhau, bản thân anh S thì không chỉn chu làm ăn, chơi bời, rượu chè, vợ chồng thường xuyên sẩy ra cãi nhau, xúc phạm nhau. Khi mâu thuẫn xẩy ra, gia đình hai bên có biết, có khuyên bảo nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn diễn ra ngày càng căng thẳng, trầm trọng. Chính vì cuộc sống gia đình ngày càng căng thẳng, nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau. Chị H và con đã về chung sống cùng gia đình bố mẹ đẻ chị H. Khi làm đơn ly hôn, chị H có gọi anh S đến Tòa án để giải quyết ly hôn, tuy nhiên anh nói bận đi làm nên không về được, nếu về nhà anh cũng không đến Tòa án. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh S không còn, nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh S, để giải phóng cho cả hai bên.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Triệu Huyền C, sinh ngày 18/11/2007 (đã chết), cháu Triệu Thị M, sinh ngày 05/5/2010 và cháu Triệu Thị Bảo N, sinh ngày 30/4/2020, hiện nay hai con chung đang ở cùng với chị H từ khi vợ chồng sống ly thân. Ly hôn quan điểm chị H xin được nuôi dưỡng 02 con chung đến khi thành niên, chị tự nguyện không yêu cầu, anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị đang làm việc tại khu công nghiệp H, huyện T,tỉnh Phú Thọ, thu nhập 10.000.000đ/tháng, chị và các con đang ở cùng với bố mẹ đẻ chị có nhà ở kiên cố rộng rãi, bố mẹ chị còn khỏe có thể hỗ trợ chị trong việc trông nom các cháu khi chị bận công việc. Chị H khẳng định sẽ đảm bảo điều kiện về kinh tế, môi trường tốt nhất cho con chung không lớn trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Khi ly hôn chị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về công sức đóng góp, tư trang riêng: Chị H xác nhận vợ chồng không có, ly hôn chị không có đề nghị gì.
* Phía bị đơn, anh Triệu Đức S đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo qui định nhưng vẫn cố tình trốn tránh, không đến Tòa án. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ tại nơi cư trú của bị đơn và thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng thông qua mẹ đẻ anh S:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh S, lấy lời khai của mẹ đẻ anh S. Theo kết quả xác minh ngày 05/6/2025 tại khu hành chính khu L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ, xác định chị H và anh S tự nguyện kết hôn năm 2006 sau kết hôn chị H và anh S về chung sống cùng bố mẹ đẻ anh S tại khu L, xã V, huyện T. Thời gian mấy năm gần đây, vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng không còn tin tưởng nhau, dẫn đến cố chấp, cãi nhau to tiếng, xúc phạm đến nhau, giữa chị H và bố mẹ chồng cũng không được hòa thuận, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại khu T, xã V, huyện T để ở. Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2025 của bà Dương Thị T là mẹ đẻ anh S cũng xác nhận như sau: Năm 2006 anh S là con trai bà xây dựng gia đình, kết hôn với chị Phùng Thị H, hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh S, chị H về chung sống cùng gia đình bà tại xã V Trong cuộc sống giữa vợ chồng anh S và chị H có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, anh S ghen tuông khi chị H đi làm công nhân, bản thân con trai bà là anh S cũng có lỗi, không chịu tu chí làm ăn, hay chơi bời, cờ bạc, thỉnh thoảng uống rượu say, ngủ cả ngày, không chịu lao động, bà T có nói thì mẹ con cãi nhau, anh S cư xử không chuẩn mực với bố mẹ đẻ, tính tình thì cộc cằn thô lỗ. Khi mâu thuẫn vợ chồng anh chị xẩy ra bản thân bà T đã nhiều lần khuyên bảo, nhưng không có kết quả, vợ chồng mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, chị H và anh S đã sống ly thân từ năm 2023, không còn quan tâm đến nhau. Quan điểm gia đình bà T, thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa anh S và chị H đã kéo dài nhiều năm nay, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung: Bà T cũng xác nhận vợ chồng anh S, chị H có 03 con chung là cháu Triệu Huyền C, sinh ngày 18/11/2007 (đã chết), cháu Triệu Thị M, sinh ngày 05/5/2010 và cháu Triệu Thị Bảo N, sinh ngày 30/4/2020, hiện nay hai con chung đang ở cùng với chị H và gia đình chị H tại xã V, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, con chung được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S đi làm nhưng không có trách nhiệm gì đến con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Theo bà T, vợ chồng anh S, chị H kết hôn xong về ở chung cùng gia đình bà, anh chị không có tài sản chung, nhà đất là của gia đình bà, anh S và chị H không nợ nần ai. Bà có nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng khác của Tòa án, bà có thông báo và đưa các văn bản của Tòa án trực tiếp cho anh S, để anh S biết việc Tòa đang giải quyết việc chị H xin ly hôn anh. Anh S có nhận và biết việc việc chị H xin ly hôn anh, còn việc anh S có đến anh tòa án làm việc hay không bà không nắm được. Anh S hiện nay đang làm thuê tại Hà Nội, làm công việc gì, hay địa chỉ cụ thể như thế nào bà không nắm được, anh S có nói lại với bà, thực tế vợ chồng không ở với nhau thời gian dài, không còn tình cảm nữa, anh nhất trí ly hôn để giải thoát cho nhau, ổn định cuộc sống, con cái còn nhỏ cứ để chị H nuôi dưỡng, tài sản, nợ nần các vấn đề khác vợ chồng không có gì. Anh S đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng mặt anh theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70, 71 - Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 16/6/2025. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 - Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 - Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện: Xử cho chị Phùng Thị H được ly hôn anh Triệu Đức S. Về con chung: Giao con chung là cháu Triệu Thị M, sinh ngày 05/5/2010 và cháu Triệu Thị Bảo N, sinh ngày 30/4/2020 cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H tự nguyện không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ, chung, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết do chị H không yêu cầu. Về án phí: chị H được miến án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn - Chị Phùng Thị H và anh Triệu Đức S đều có HKTT tại huyện T, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo qui định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 - Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Xét về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Phùng Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 16/6/2025, bị đơn anh Triệu Đức S được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh S là phù hợp quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 - Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phùng Thị H và anh Triệu Đức S là hợp pháp, được chứng minh tại đăng ký kết hôn số 21/2006, ngày 07/6/2006 (BL - 01). Tình cảm vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc một thời gian dài thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh. Do xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được và chị H không còn tình cảm với anh S nên chị đơn phương làm đơn xin ly hôn.
Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng: Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án và lời trình bày của mẹ anh S - Bà Dương Thị T (BL - 41) phù hợp với trình bày của chị H về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, đủ cơ sở chứng minh: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh S xẩy ra đã lâu, cuộc sống chung của vợ chồng đã trầm trọng, thực tế cuộc hôn nhân không còn tồn tại, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh S là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Quá trình tố tụng tại Tòa án, chị H xác nhận giữa chị và anh S có 03 con chung là cháu Triệu Huyền C, sinh ngày 18/11/2007 (đã chết), cháu Triệu Thị M, sinh ngày 05/5/2010 và cháu Triệu Thị Bảo N, sinh ngày 30/4/2020, hiện nay hai con chung đang ở cùng với chị H và gia đình chị H tại xã V, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, con chung được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S đi làm nhưng không có trách nhiệm gì đến con chung.
Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung chưa thành niên khi bố mẹ ly hôn cần giao con chung là cháu Triệu Thị M, sinh ngày 05/5/2010 và cháu Triệu Thị Bảo N, sinh ngày 30/4/2020 cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi các cháu thành niên, tự lực được. Anh S không không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu. Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp, tư trang riêng: Do anh Triệu Đức S vắng mặt không có quan điểm, chị Phùng Thị H xác nhận không có, ly hôn không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Phùng Thị H được miễn toàn bộ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1+3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị H. Xử cho chị Phùng Thị H được ly hôn anh Triệu Đức S.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Triệu Thị M, sinh ngày 05/5/2010 và cháu Triệu Thị Bảo N, sinh ngày 30/4/2020 cho chị Phùng Thị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi các cháu thành niên, tự lực được. Anh Triệu Đức S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H tự nguyện không yêu cầu. Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.
3. Về án phí: Chị Phùng Thị H được miễn toàn bộ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đào Thị Anh Nhinh |
Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
