TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/5/2025 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Minh Thành
- Bà Cao Thị Hồng Châu
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM'Gar
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM'gar tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thủy – Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại Toà án nhân dân huyện Cư M'gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2025/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 – Có đơn xét xử vắng mặt
Trú tại: Thôn L, xã Y, huyện K, tỉnh ĐắkLắk - Bị đơn: Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1986 - Vắng mặt
Trú tại: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh ĐắkLắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Đình C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2017 có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk ngày 16/11/2017. Chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 12/2018 cho đến nay vợ chồng không chung sống với nhau nữa, bà T một mình nuôi con, ông C không quan tâm gì đến con cái. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, vợ chồng không thể đoàn tụ chung sống với nhau. Nguyện vọng của bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Nguyễn Đình C.
Về con chung: Bà T và ông C có 01 con chung là cháu Nguyễn Phương T1, sinh ngày 16/10/2017. Nguyện vọng của bà T được nuôi con chung cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Nguyễn Đình C .
Về con chung: Chấp nhận nguyện vọng của bà Nguyễn Thị T, giao cháu Nguyễn Phương T1, sinh ngày 16/10/2017 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu ông Nguyễn Đình C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị HĐXX không đặt ra để giải quyết.
Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Nguyễn Thị Thương yêu cầu được ly hôn, giải quyết nuôi con chung với ông Nguyễn Đình C nên quan hệ pháp luật trong vụ án là ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Trong quá trình tố tụng ông Nguyễn Đình C có địa chỉ cư trú tại xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Đình C tự nguyện chung sống từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk ngày 16/11/2017, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà T và ông C trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 12/2018 đến nay bà T và ông C không chung sống với nhau nữa. Như vậy, hôn nhân của bà T và ông C lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không thể đoàn tụ chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T cho bà Nguyễn Thị T ly hôn với ông Nguyễn Đình C.
[4]. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Đình C có 01 con chung là cháu Nguyễn Phương T1, sinh ngày 16/10/2017 đang do bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Trên cơ sở nguyện vọng của cháu T1 cũng như của bà T. Cần giao con chung cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu ông Nguyễn Đình C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đề cập xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5].Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228 Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Nguyễn Đình C .
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phương T1, sinh ngày 16/10/2017 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Ông Nguyễn Đình C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0014664 ngày 24/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M'gar.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huyền Diệu |
Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐĂK LĂK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐĂK LĂK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu giải quyết ly hôn ông Nguyễn Đình C
