Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/12/2025
“V/V Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thu Anh và bà Lê Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 25/12/2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/10/2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 03/12/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Lý Thị T, sinh năm 1993

Nơi đăng ký thường trú: thôn E, xã H, tỉnh Quảng Ninh.

Nơi ở hiện nay: thôn K, xã B, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn P, sinh năm 1989

Nơi đăng ký thường trú: thôn E, xã H, tỉnh Quảng Ninh.

Nơi ở hiện nay: đang thi hành án tại Trại giam X, xã V, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn chị Lý Thị T trình bày: Chị Lý Thị T và anh Vũ Văn P tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống sau khi kết hôn hai vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau đó đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do hai người tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không tin tưởng nhau, nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau và anh P vi phạm pháp luật phải đi thi hành bản án 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hiện đang thi hành tại trại giam X, thành phố Hải Phòng. Vì thế, chị T thấy không còn tình cảm với anh P nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.

Về con chung: Chị T xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị sinh được 02 (hai) con chung là Vũ Thị Minh H, sinh ngày 31/12/2012 và Vũ Văn H1, sinh ngày 18/8/2014. Quan điểm của chị T khi ly hôn chị nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì hiện tại anh P đang phải chấp hành bản án không thể trực tiếp nuôi con được.

Về tài sản chung và khoản nợ chung: Chị T xác nhận chị và anh P không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn anh Vũ Văn P trình bày: Anh thừa nhận quá trình tìm hiểu và kết hôn như chị T đã trình bày. Năm 2013 sau khi hai người kết hôn và chung sống với nhau đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống nên thường xuyên cãi vã nhau. Nay anh vi phạm pháp luật phải đi thi hành án phạt 18 năm tù nên tình cảm với chị T cũng không còn. Do đó, chị T làm đơn xin ly hôn anh, anh đồng ý. Hiện tại anh đang phải chấp hành án nên không thể về tham gia phiên tòa để giải quyết ly hôn với chị T nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Về con chung: Anh P xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng anh sinh được 02 (hai) con chung là Vũ Thị Minh H, sinh ngày 31/12/2012 và Vũ Văn H1, sinh ngày 18/8/2014. Quan điểm của anh P khi hai vợ chồng ly hôn anh đồng ý để chị T trực tiếp nuôi cả hai con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), việc cấp dưỡng nuôi con chung anh và chị T tự thỏa thuận.

Về tài sản chung và khoản nợ chung: Anh P xác nhận hai người không có nên không yêu cầu giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

  • Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ. Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp quy định tại Điều 28, Điều 35 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025 ngày 25.6.2025 của Quốc Hội), Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự; thời hạn chuẩn bị xét xử, mở phiên tòa đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý cho đến khi nghị án: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: các đương sự vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt họ.

+ Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” của chị Lý Thị T.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tình cảm: Chị Lý Thị T được ly hôn anh Vũ Văn P.

Về con chung: Giao con chung Vũ Thị Minh H, sinh ngày 31/12/2012 và Vũ Văn H1, sinh ngày 18/8/2014 cho chị Lý Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: ngày 02/10/2025, người khởi kiện là chị Lý Thị T nộp đơn tại Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh. Ngày 06/10/2025 Tòa án tiến hành thụ lý vụ án bảo đảm đúng quy định tại Điều 195 và 197 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền: căn cứ vào đơn khởi kiện và yêu cầu của người khởi kiện đề ngày 21/8/2025, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền của Tòa án quy định tại Điều 28; Điều 35 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025 ngày 25.6.2025 của Quốc Hội); Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của các đương sự: trong quá trình giải quyết nguyên đơn, bị đơn đều có quan điểm thể hiện về việc giải quyết vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt họ.

[2] Về tình cảm: Chị Lý Thị T và anh Vũ Văn P tìm hiểu và tự nguyện kết hôn năm 2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, thành phố M (nay là xã H), tỉnh Quảng Ninh vào ngày 05 tháng 08 năm 2013. Quá trình chung sống đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do hai người tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không tin tưởng nhau, nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Năm 2019 anh P vi phạm pháp luật và bị kết án 18 năm tù hiện phải thi hành án tại trại giam X, thành phố Hải Phòng. Do tình cảm với anh P không còn nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.

Quan điểm của anh P thể hiện mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016 nguyên nhân là anh chơi bời và sau đó anh phải chấp hành án phạt 18 năm tù tại giam X, thành phố Hải Phòng nên anh cũng đồng ý ly hôn chị T.

Qua các tài liệu chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy nguyện vọng xin ly hôn của chị Lý Thị T là hoàn toàn chính đáng phù hợp theo quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của các đương sự là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Về con chung: trong quá trình chung sống chị T và anh Phú S được 02 (hai) con chung là Vũ Thị Minh H, sinh ngày 31/12/2012 và Vũ Văn H1, sinh ngày 18/8/2014. Quan điểm của các đương sự đều thống nhất giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với nguyện vọng của các con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và khoản nợ chung: các đương sự đều xác nhận không có tài sản chung và khoản nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Lý Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28, Điều 35 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH ngày 25.6.2025 của Quốc Hội), Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 173, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Thị T.

1. Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị T được ly hôn anh Vũ Văn P.

- Về con chung: Giao cả 02 con chung Vũ Thị Minh H, sinh ngày 31/12/2012 và Vũ Văn H1, sinh ngày 18/8/2014 cho chị Lý Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về án phí: Chị Lý Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình nhưng được trừ đi số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000962 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh. Chị T đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành hành án dân sự.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND khu vực 6 - Quảng Ninh;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Quảng Ninh;
- UBND xã Hải Ninh, tỉnh Quảng Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Chí Mạnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger