Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/02/2025

V/v: Tranh chấp về xác định cha cho con

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.

Hội Thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.

Ông Nguyễn Văn Kỹ.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/12/2024 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/01/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Phùng Thanh H, sinh năm 1999. HKTT: Thôn Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1998. HKTT: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn D, sinh năm 1995. HKTT: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Hiện trú tại: Thái Lan. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Phùng Thanh H trình bày: Năm 2021, anh và chị T có quen biết nhau, đầu năm 2022 anh chị phát sinh tình cảm và có chung sống với nhau, anh và chị T có với nhau 01 con chung dự định đặt tên là Phùng Thanh T1, sinh ngày 28/02/2023 theo giấy chứng sinh số 150 quyển số 01/2023/GCS-SĐ ngày 28/02/2023 tại Bệnh viện sản nhi tỉnh B. Thời điểm sinh cháu T1 thì chị T và anh Trần Văn D vẫn tồn tại quan hệ vợ chồng. Ngày 01/7/2024 chị T và anh D có ly hôn theo quyết định số 17/2024/QĐVDS-HNGĐ ngày 01/7/2024 của TAND tỉnh Bắc Ninh.

Hiện nay cháu T1 chưa làm giấy khai sinh, do cháu T1 sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị T và anh D, nên anh không thể đứng tên là cha của cháu T1 trong giấy khai sinh. Cháu T1 là con gái anh (anh đã đi xét nghiệm ADN) nên anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giải quyết và xác nhận anh là cha của cháu là Phùng Thanh T1, sinh ngày 28/02/2023.

Anh được biết trước đây anh D ở địa chỉ T, 159, P, P city, Bang langmung, chon Buri, Thai L; tuy nhiên từ tháng 10/2024 anh D đã chuyển chỗ làm, vẫn ở Thái Lan nhưng anh không rõ địa chỉ cụ thể..

Do công việc bận nên anh H xin vắng mặt toàn bộ các buổi làm việc và xét xử của Tòa án.

Bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Văn D và đăng ký kết hôn ngày 10/12/2019 tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn chị và anh D có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn không bị ép buộc hay lừa dối. Sau ngày cưới, chị về sống chung với anh D ở Bắc Kạn. Được thời gian đầu hạnh phúc, sau đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, chị và anh D không tìm thấy tiếng nói chung trong bất kỳ vấn đề gì. Từ năm 2020 chị và anh D đã ly thân. Sau đó chị có quen và nảy sinh tình cảm với anh Phùng Thanh H, chị và anh H có với nhau 01 con chung dự định đặt tên là Phùng Thanh T1, sinh ngày 28/02/2023 theo giấy chứng sinh số 150 quyển số 01/2023/GCS-SĐ ngày 28/02/2023 tại Bệnh viện sản nhi tỉnh B. Thời điểm sinh cháu T1 thì chị và anh Trần Văn D vẫn tồn tại quan hệ vợ chồng. Ngày 01/7/2024 chị và anh D có ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của đương sự số 17/2024/QĐVDS-HNGĐ ngày 01/7/2024 của TAND tỉnh Bắc Ninh.

Anh H làm đơn xin xác nhận cháu Phùng Thanh T1 là con anh H thì chị nhất trí, vì chị và anh H đã đi làm xét nghiệm ADN và xác nhận cháu T1 là con anh H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn D đã được Tòa án thông báo, triệu tập nhiều lần, nhưng anh D không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án. Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Trịnh Thị Kim D1 là mẹ đẻ của anh Trần Văn D, bà D1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của Trần Văn D, sinh năm 1995. Số CCCD: [...] cấp ngày 07/01/2022 tại Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. HKTT: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Hiện cháu D đang ở Thái Lan. Năm 2019 bà tổ chức đám cưới cho con trai bà với cháu Nguyễn Thị T, hai cháu có 01 con chung là Trần Minh T2, sinh ngày 06/11/2019. Bà được biết cháu T và cháu D đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của đương sự số 17/2024/QĐVDS-HNGĐ ngày 01/7/2024 của TAND tỉnh Bắc Ninh.

Cháu D hiện đang ở Thái Lan, trước đây cháu ở địa chỉ: T, 159, P, P city, Bang langmung, chon Buri, Thai L; tuy nhiên hiện nay cháu đã chuyển chỗ làm từ tháng 10/2024, chỗ ở mới hiện nay ở Thái Lan thì bà không biết. Cháu D vẫn thường xuyên liên lạc với bà bằng điện thoại, bà có hỏi cháu địa chỉ mới nhiều lần nhưng cháu không nói.

Bà được Tòa án tỉnh Bắc Ninh gửi giấy thông báo thụ lý vụ án về xác định cha cho con thì bà có điện thoại thông báo cho con trai bà thì con trai bà có nhờ bà nhắn lại với Tòa án tỉnh Bắc Ninh như sau: “Cháu Trần Văn D và vợ cũ là Nguyễn Thị T chỉ có 01 con chung duy nhất là Trần Minh T2, sinh ngày 06/11/2019; nay anh Phùng Thanh H đề nghị Tòa án xác định cháu Phùng Thanh T1, sinh ngày 28/02/2023 theo giấy chứng sinh số 150 quyển số 01/2023/GCS-SĐ ngày 28/02/2023 tại Bệnh viện sản nhi tỉnh B là con của anh H thì cháu D nhất trí, không có ý kiến gì, vì đã có kết quả xác định ADN. Hiện nay, cháu D đang làm việc ở Thái Lan, công việc rất bận, không thể gửi ý kiến về, cháu D đề nghị giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bà nhận thay các văn bản, giấy tờ của Tòa án tỉnh Bắc Ninh”. Bà cam đoan đây là lời trình bày của con trai bà, nếu sai bà xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Nay liên quan đến việc xác định cha cho con giữa cháu T với cháu Phùng Thanh H thì bà đồng ý sẽ nhận thay các giấy tờ, văn bản tố tụng gửi cho con trai bà là Trần Văn D và bà cam kết sẽ giao lại những văn bản này cho con trai bà ngay trong ngày nhận được.

Tại phiên toà anh H và chị T đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện: Xác định anh Phùng Thanh H là bố đẻ của cháu Phùng Thanh T1, sinh ngày 28/02/2023 theo giấy chứng sinh số 150 quyển số 01/2023/GCS-SĐ ngày 28/02/2023 tại Bệnh viện sản nhi tỉnh B. Về án phí: Anh Phùng Thanh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn yêu cầu, anh Phùng Thanh H đề nghị Tòa án xác định anh là bố đẻ của cháu Phùng Thanh T1. Căn cứ vào khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp về xác định cha cho con”.

Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn yêu cầu của anh H thì bị đơn là chị Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn D hiện đang ở Thái Lan. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Anh H và chị T đều có yêu cầu xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

[2]. Về nội dung vụ án: Năm 2021, anh H và chị T có quen biết nhau, đầu năm 2022 anh chị phát sinh tình cảm và có chung sống với nhau, anh H và chị T có với nhau 01 con chung dự định đặt tên là Phùng Thanh T1, sinh ngày 28/02/2023 theo giấy chứng sinh số 150 quyển số 01/2023/GCS-SĐ ngày 28/02/2023 tại Bệnh viện sản nhi tỉnh B. Thời điểm sinh cháu T1 thì chị T và anh Trần Văn D vẫn tồn tại quan hệ vợ chồng. Ngày 01/7/2024 chị T và anh D có ly hôn theo quyết định số 17/2024/QĐVDS-HNGĐ ngày 01/7/2024 của TAND tỉnh Bắc Ninh.

Hiện nay cháu T1 chưa làm giấy khai sinh, do cháu T1 sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị T và anh D, nên anh H không thể đứng tên là cha của cháu T1 trong giấy khai sinh.

Tại kết quả xét nghiệm AND ký hiệu KQ 20798224 của công ty TNHH D2 kết luận: “Người có mẫu ghi tên Đoàn Văn N có quan hệ huyết thống cha con với người có mẫu ghi tên Nguyễn Ngọc Minh C với độ tin cậy 99,999999%”. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của anh H xác định anh là bố đẻ của cháu Phùng Thanh T1, sinh ngày 28/02/2023 theo giấy chứng sinh số 150 quyển số 01/2023/GCS-SĐ ngày 28/02/2023 tại Bệnh viện sản nhi tỉnh B; HĐXX xét thấy có đủ cở sở, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

[3]. Về án phí: Anh Phùng Thanh H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 39 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 5 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Thanh H: Xác định anh Phùng Thanh H là bố đẻ của cháu Phùng Thanh T1, sinh ngày 28/02/2023 theo giấy chứng sinh số 150 quyển số 01/2023/GCS-SĐ ngày 28/02/2023 tại Bệnh viện sản nhi tỉnh B.
  3. Về án phí: Anh Phùng Thanh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh H 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000165 ngày 27/5/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi cư trú của đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp về xác định cha cho con

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xác định anh Phùng Thanh Hùng là bố đẻ của cháu Phùng Thanh Tú, sinh ngày 28/02/2023 theo giấy chứng sinh số 150 quyển số 01/2023/GCS-SĐ ngày 28/02/2023 tại Bệnh viện sản nhi tỉnh Bắc Ninh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger