Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG

YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 23/6/2025

V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Diễn.
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Chí Thân và bà Vũ Thị Thanh.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên .

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 06/2025/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2025, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 06/6/2025, giữa:

  • - Nguyên đơn: Chị Ngô Thị L, sinh năm 1995.
  • Địa chỉ cư trú: thôn C, xã C, thị xã Q, có mặt tại phiên tòa.
  • - Bị đơn: Anh Dương Văn Đ, sinh năm 1993.
  • Địa chỉ cư trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, chị Ngô Thị L trình bày có nội dung như sau:

Chị Ngô Thị L và anh Dương Văn Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Q, đăng ký kết hôn vào ngày 23/01/2013. Sau khi đăng ký kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai người không tìm được tiếng nói chung, tính cách không hợp nhau, không quan tâm và yêu thương nhau, thường xuyên cãi vã xích mích, anh Đ mải chơi, tham gia tệ nạn xã hội là cờ bạc, không quan tâm đến gia đình vợ con, ngoài ra anh Đ còn có biểu hiện quan hệ ngoài vợ chồng không trong sáng, do mâu thuẫn không giải quyết được nên chị L đã đưa hai con về nhà bố mẹ đẻ để ở từ tháng 9 năm 2024 và hai người sống ly thân từ đó đến nay, thời gian sống ly thân hai người không còn quan tâm chăm sóc nhau, nay chị L xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài và muốn ổn định cuộc sống nên chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ. Về con chung, chị L và anh Đ sinh được 02 con chung là Dương Gia B, sinh ngày 04/11/2012 và Dương Việt T, sinh ngày 19/11/2017, chị L cho rằng cả hai con chung từ nhỏ đến nay đều ở cùng chị, chị L có nguyện vọng muốn nuôi cả hai con chung đến tuổi thành niên và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L. Về tài sản chung, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 05/5/2025 và ngày 14/5/2025, anh Đ đều vắng mặt, chị L giữ nguyên quan điểm như nêu trên.

Đối với bị đơn, anh Dương Văn Đ, quá trình giải quyết từ khi thụ lý vụ án anh Đ không hợp tác, tuy anh Đ có đến Tòa một lần theo Giấy triệu tập của Tòa án và trình bày quan điểm trong đó thừa nhận hai vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn trầm trọng và thường xuyên cãi vã nhưng anh Đ lại không đồng ý ly hôn và lại muốn trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi thành niên và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Đ. Khi Tòa án mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Đ đều không đến, Tòa án đã tiến hành điều tra xác minh tại gia đình và địa phương thì xác định được mâu thuẫn vợ chồng như hai bên đương sự trình bày là đúng và theo luật định Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa lần thứ nhất do anh Đ vắng mặt, Hội đồng xét xử (HĐXX) hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay anh Đ vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do, HĐXX tiến hành xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa hôm nay, chị L vẫn giữ nguyên quan điểm về vấn đề tình cảm là ly hôn anh Dương Văn Đ, về con chung chị L thay đổi quan điểm: hiện con lớn là Dương Gia B đang ở cùng anh Đ, điều kiện anh Đ tương đối đảm bảo để nuôi dưỡng con chung vì đã có nhà riêng và ở cùng mẹ đẻ anh Đ hơn nữa nguyện vọng của con chung Dương Gia B cũng muốn ở cùng với bố nên chị có quan điểm chị sẽ nuôi dưỡng con nhỏ là Dương Việt T còn anh Đ sẽ nuôi con Dương Gia B đến tuổi thành niên, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau, về tài sản chung, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu ý kiến về việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án của Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo các quy định của pháp luật; tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đầy đủ và đảm bảo quyền lợi của đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo quyền lợi của các đương sự, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,82,82 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, xử cho chị Ngô Thị L được ly hôn anh Dương Văn Đ; về con chung giao con chung Dương Gia B, sinh ngày 04/11/2012 cho anh Dương văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Dương Việt T sinh ngày 19/11/2017 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, hai bên đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau, về tài sản chung, đương sự không yêu cầu giải quyết, không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị L :

Chị Ngô Thị L và anh Dương Văn Đ kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Q, đăng ký kết hôn vào ngày 23/01/2013, đây là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu hôn nhân hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hai người không ý thức được rõ trách nhiệm của mình trong việc cùng nhau vun vén tạo lập xây dựng hạnh phúc gia đình, ngoài ra, anh Đ chưa làm tròn trách nhiệm của người chồng trong gia đình, để một mình chị L lo toan gánh vác gia đình dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và kéo dài, thực tế hai người đã sống ly thân từ cuối năm 2024 đến nay chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa hai người dành cho nhau đã thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, chị L kiên quyết muốn ly hôn anh Đ. Đối với anh Đ mặc dù vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản khai tại Tòa thể hiện thừa nhận hai vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng thường xuyên xẩy ra cãi vã nhưng lại không đồng ý ly hôn với lý do con chung sẽ thiếu thốn tình cảm, HĐXX cho rằng lý do của việc anh Đ không đồng ý ly hôn là không phù hợp với thực tế đời sống tình cảm của hai vợ chồng mà chính anh Đ đã thừa nhận nên HĐXX không chấp nhận lý do này của anh Đ và HĐXX thấy rằng yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh Đ của chị L là có căn cứ nên áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện về tình cảm của chị L, xử cho chị L được ly hôn anh Dương Văn Đ.

[2] Về con chung: Chị Ngô Thị L và anh Dương Văn Đ sinh được 02 con chung là Dương Gia B, sinh ngày 04/11/2012 và Dương Việt T sinh ngày 19/11/2017, hiện con lớn là Dương Gia B đang ở cùng anh Đ như trình bày ở trên, còn con nhỏ đang ở cùng chị L. Đối với anh Đ có thể hiện quan điểm về con chung trong bản khai tại Tòa án cũng muốn nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung, tuy nhiên sau đó anh Đ đều không đến Tòa để Tòa án tiến hành hòa giải và tham gia tố tụng. HĐXX thấy rằng, qua xác minh tại địa phương và đương sự trình bày thì điều kiện để nuôi dưỡng con chung của anh Đ là tương đối tốt, anh Đ làm công nhân tại địa phương, có nhà riêng, có mẹ đẻ anh Đ ở cùng, hơn nữa con chung Dương Gia B cũng muốn ở với bố, còn chị L muốn nuôi dưỡng con nhỏ và con nhỏ cũng muốn ở với mẹ và quan điểm của chị L tại phiên tòa hôm nay là mỗi người nuôi một con chung theo nguyện vọng của hai con và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau, HĐXX xét điều kiện thực tế của hai bên đương sự cũng như nguyện vọng của con chung và quy định của pháp luật, HĐXX chấp nhận yêu cầu về vấn đề con chung của chị L.

[3] Về tài sản chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, HĐXX không đề cập.

[4] Về án phí: áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Ngô Thị L phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Ngô Thị L, chị Ngô Thị Lệ ly H anh Dương Văn Đ.
  2. Về con chung: giao cho chị Ngô Thị L trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung tên là Dương Việt T, sinh ngày 19/11/2017; giao cho anh Dương Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung tên là Dương Gia B, sinh ngày 04/11/2012 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), hai bên đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, khi cần thiết vì lợi ích của con, bên không trực tiếp nuôi con có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về tài sản chung: đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đề cập đến.
  2. Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm, chị L đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002847, ngày 15/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, chị L đã nộp đủ án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/6/2025); báo cho bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh ;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND Tx Quảng Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Thi hành án dân sự;
  • - UBND phường Phong Hải (nơi
  • đăng ký kết hôn);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Diễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ - ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger