Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23 - 5 - 2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Lợi

2. Bà Nguyễn Thị Tươi

Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Bích Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2025/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Đỗ Thị T sinh năm 1985; địa chỉ: thôn K, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: anh Đinh Ngọc H sinh năm 1979; địa chỉ: số nhà E, ngõ C, đường N, phố V, phường B, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên toà: có mặt chị T; vắng mặt anh H.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 25/02/2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn - chị Đỗ Thị T trình bày:

Chị và anh Đinh Ngọc H được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã N, tỉnh Ninh Bình ngày 01/4/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được mấy năm sau đó phát sinh mâu thuẫn, từ năm 2024 đến nay mâu thuẫn trầm trọng hơn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Hiện tại vợ chồng đã bán nhà, tự phân chia tài sản và sống ly thân nhau từ năm 2024 đến nay. Nay, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Ngọc H.

Về con chung: chị và anh Đinh Ngọc H có 02 con chung là cháu Đinh Ngọc T1 sinh ngày 09/12/2004 và Đinh Ngọc M sinh ngày 22/4/2009. Cháu T1 hiện đã trên 18 tuổi, tự lập được cuộc sống nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng cháu T1 khi vợ chồng ly hôn; đối với cháu M chưa đủ 18 tuổi, chị đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng cháu M khi vợ chồng ly hôn. Cháu M hiện đang ở với chị, chị đề nghị Tòa án giao cháu M cho chị trực tiếp nuôi dưỡng khi vợ chồng ly hôn, chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị vì hiện tại chị đang làm công nhân tại công ty V lương tháng ổn định đảm bảo cuộc sống của chị và cháu M.

Về tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Bị đơn - anh Đinh Ngọc H: quá trình giải quyết vụ án anh Đinh Ngọc H không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị T; không nộp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án. Tòa án nhiều lần triệu tập anh H để lấy lời khai của anh đối với yêu cầu của chị T nhưng anh H không có mặt. Tòa án nhiều lần giao văn bản tố tụng hợp lệ cho anh H nhưng anh không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vụ án.

* Tại Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị Đỗ Thị T và anh Đinh Ngọc H của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư ngày 23/4/2025 tại phố V, phường B nơi chị T, anh H thường trú, Bí thư chi bộ phố V cung cấp như sau: quá trình chung sống tại địa phương chị T, anh H nhiều lần đánh cãi chửi nhau ầm ĩ khu phố, ảnh hưởng đến an ninh trật tự khu phố, chính quyền địa phương đã nhiều lần đến can thiệp, hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện chị T, anh H đã bán nhà, anh H và cháu T1 con lớn của anh chị ở cùng mẹ anh H, chị T và cháu M con thứ hai của anh chị ở đâu không rõ.

2

* Quá trình giải quyết vụ án ngày 01/4/2025, Tòa án tiến lấy lời khai cháu Đinh Ngọc M để hỏi nguyện vọng của cháu ở với ai nếu bố mẹ cháu ly hôn. Cháu M trình bày có nguyện vọng ở với chị T nếu bố mẹ ly hôn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị T. Cho chị Đỗ Thị T được ly hôn với anh Đinh Ngọc H.
  • Về con chung: giao cháu Đinh Ngọc M sinh ngày 22/4/2009 cho chị Đỗ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị T.
  • Về án phí sơ thẩm: chị Đỗ Thị T phải nộp 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000780 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[l] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Chị Đỗ Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Đinh Ngọc H cư trú tại phường B, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

3

[1.2] Bị đơn anh Đinh Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Đỗ Thị T và anh Đinh Ngọc H xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện, thủ tục kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã N, tỉnh Ninh Bình ngày 01/4/2004 nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị Đỗ Thị T trình bày chị và anh Đinh Ngọc H chung sống hạnh phúc được mấy năm sau đó phát sinh mâu thuẫn, từ năm 2024 đến nay mâu thuẫn trầm trọng hơn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau nên chị T làm đơn xin ly hôn anh H.

Đối với anh Đinh Ngọc H, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu ly hôn của chị T, chứng tỏ anh H không có thiện chí đoàn tụ. Mặt khác, căn cứ kết quả xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H tại phố V, phường B nơi chị T, anh H thường trú cũng xác nhận quá trình chung sống tại địa phương chị T, anh H nhiều lần đánh cãi chửi nhau ầm ĩ khu phố, ảnh hưởng đến an ninh trật tự khu phố, chính quyền địa phương đã nhiều lần đến can thiệp, hòa giải nhưng không có kết quả, hiện anh chị không ở cùng nhau.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T, anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị T xin ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện, giải quyết cho chị Đỗ Thị T được ly hôn anh Đinh Ngọc H.

[2.2] Về con chung: chị Đỗ Thị T và anh Đinh Ngọc H có hai con chung là cháu Đinh Ngọc T1 sinh ngày 09/12/2004 và Đinh Ngọc M sinh ngày 22/4/2009. Cháu T1 hiện đã trên 18 tuổi, tự lập được cuộc sống nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng cháu T1 khi vợ chồng ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; đối với cháu M chưa đủ 18 tuổi, hiện đang ở với chị T, chị T đề nghị Tòa án giao cháu M cho chị tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy chị T có việc làm, thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con và cháu M có nguyện vọng ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn.Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con chung

4

cần giao cháu M cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng chị T không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về việc chia tài sản khi ly hôn: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Đỗ Thị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 281; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị T.

1. Cho chị Đỗ Thị T được ly hôn với anh Đinh Ngọc H.

2. Về con chung: giao cháu Đinh Ngọc M sinh ngày 22/4/2009 cho chị Đỗ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

5

3. Về án phí sơ thẩm: chị Đỗ Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000780 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư, chị T đã nộp đủ.

4. Quyền kháng cáo: chị Đỗ Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (23/5/2025). Anh Đinh Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND TP.Hoa Lư;
  • - Chi cục THA TP.Hoa Lư;
  • - UBND P. Bích Đào, TP.Hoa Lư;
  • - Lưu hồ sơ; VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TÒA

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hiền

6

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Lợi

Nguyễn Thị Tươi

Vũ Thị Hiền

7

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger