Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

_________________________

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/06/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Khắc Tuấn và Dào Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Thuận là Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2025/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 03 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 05 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị T, sinh năm 1990; Có mặt

    Địa chỉ: Thôn L, xã P, P, Hà Nội.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành K, sinh năm 1986; Vắng mặt

    Địa chỉ: Số B L, phường V, thị xã S, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Đào Thị T trình bày:

Chị và anh K kết hôn năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thị xã S, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 02/2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, anh K thường xuyên đánh đập chị và có mối quan hệ tình cảm với người khác. Vợ chồng chị sống ly thân từ tháng 11/2024 đến nay, cả hai đều không tìm ra được tiếng nói chung. Gia đình cũng đã khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thành K.

- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 16/08/2023, hiện tại cháu đang ở cùng với mẹ. Khi ly hôn chị đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ/tháng, kể từ tháng 6/2025 cho đến lúc cháu Ngọc A đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có

- Về phía bị đơn anh Nguyễn Thành K: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án đối với bị đơn là anh Nguyễn Thành K, để bị đơn biết những vấn đề cụ thể mà nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết và trình bày ý kiến của mình. Tuy nhiên, bị đơn đã không đến Tòa án để làm bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình với nguyên đơn, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không đưa ra yêu cầu phản tố. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vụ án. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập phiên tòa và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn.

Theo biên bản xác minh tại địa phương và gia đình cung cấp có nội dung: Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh K và chị T là có thật, gia đình đã tiến hành hoà giải nhưng không có kết quả.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây thụ lý vụ án đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung: : Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị T, xử cho chị T được ly hôn anh Nguyễn Thành K.

  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 16/8/2023 cho chị Đào Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ngọc A 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T mỗi một tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng chẵn) cho đến lúc cháu Ngọc A đủ 18 tuổi.

  3. Về tài sản chung; nợ: Không có.

  4. Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Đào Thị T đối với anh Nguyễn Thành K có địa chỉ tại B L, phường V, thị xã S, Hà Nội là tranh chấp Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội theo quy định tại các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 đối với bị đơn anh Nguyễn Thành K để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, anh K vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T kết hôn với anh K tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Đào Thị T và anh Nguyễn Thành K là hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nói nhau, anh K đánh đập chị T và có mối quan hệ bên ngoài. Theo biên bản xác minh tại địa phương thể hiện mâu thuẫn giữa vợ chồng anh K và chị T là có thật. Vợ chồng anh chị cũng đã sống ly thân từ tháng 11/2024 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng anh K và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

[2.2] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 16/08/2023, hiện tại cháu đang ở cùng với mẹ. Khi ly hôn chị T đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ/ tháng.

Xét cháu Ngọc A còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi và từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Ngọc A ở cùng với chị T. Nên để bảo đảm lợi ích mọi mặt của con theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Ngọc A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ/tháng là phù hợp với với quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao nên có căn cứ chấp nhận.

[2.3] Về tài sản chung: Không có.

[2.4] Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có.

Nếu sau này anh K có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

[3] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Xử: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị T xin ly hôn anh Nguyễn Thành K. Chị Đào Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thành K.

2. Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 16/08/2023. Giao cháu Nguyễn Ngọc A cho chị Đào Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thành K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị T là 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 06/2025 cho đến khi cháu Ngọc A đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3.Về tài sản chung: Không có.

4. Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có.

5. Về án phí: Chị Đào Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0001103 ngày 20/03/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Anh Nguyễn Thành K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

6.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Đào Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn anh Nguyễn Thành K được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;

  • - VKSND TX Sơn Tây;

  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;

  • - Cơ quan đã đăng ký kết hôn;

  • - Các đương sự;

  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger