Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20-3-2025

V/v “Ly hôn, con chung”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thân Thị Tuyết Nhung

2. Bà Nguyễn Thị Thuỷ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Đăng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Cường - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 358/2024/TLST-HNGĐ ngày 12/11/2024 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/02/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/03/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đồng Thị D, sinh năm 1994 (Xin vắng mặt)

HKTT: Số F, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Nơi ở hiện nay: Số A, đường H, tổ E, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Hoàng K, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số F, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo khởi kiện đề ngày 16/10/2024 và bản tự khai, biên bản ghi lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Đồng Thị D trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Hoàng K có thời gian tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 12/4/2012 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau khi được gia đình tổ chức hôn lễ, vợ chồng chị chung sống với nhau ở số F, đường N, phường N Khoảng hơn 01 năm sau khi kết hôn, vợ chồng chị ra ở riêng ở khu tập thể Đ (tại nhà của bác anh K). Sau đó khoảng 8 tháng thì vợ chồng chị lại về thuê trọ tại ngõ F, đường N tiện cho công việc kinh doanh. Khoảng 02 năm sau thì vợ chồng được bố mẹ mua đất và xây nhà cho ở riêng tại khu dân cư S, phường T. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do anh K chơi bời, nợ nần, cờ bạc dẫn đến việc bán căn nhà ở khu dân cư S để trả nợ. Sau khi trả nợ, còn dư một ít tiền bố mẹ có mua cho vợ chồng chị 01 căn chung cư ở S, đường N, phường N để sinh sống. Tuy nhiên, đến cuối tháng 11 năm 2024 thì vợ chồng chị cũng phải bán căn chung cư để trả nợ cho anh K. Cho đến nay vợ chồng không còn tài sản nào. Gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ, động viên anh K nhưng không có kết quả. Anh K không chịu thay đổi bản thân nên vợ chồng vẫn liên tục mâu thuẫn. Hiện nay chị và các con đã thuê nhà để ở, vợ chồng cũng sống ly thân từ khi bán nhà đến nay. Chị xác định không còn tình cảm với anh K nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Hoàng Diệp A, sinh ngày 02/02/2013 và cháu Hoàng M, sinh ngày 03/4/2015. Hiện nay 02 con chung đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Chị hiện nay đang kinh doanh quần áo, thu nhập bình quân khoảng 20.000.000 đồng/01 tháng, đủ điều kiện để nuôi cả 02 con chung.

- Về tài sản chung, về nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ, bị đơn anh Hoàng K trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Anh và chị Đồng Thị D kết hôn với nhau ngày 12/4/2012 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn, được tự do tìm hiểu và được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh về nhà bố mẹ đẻ anh sinh sống. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dù đã hoà giải nhiều lần nhưng vợ chồng vẫn nhiều mâu thuẫn dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị D xin ly hôn anh đồng ý.

- Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Diệp A, sinh ngày 02/02/2013 và cháu Hoàng M, sinh ngày 03/4/2015. Ly hôn, anh đồng ý để chị D trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 02 con chung. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn chị Đồng Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà. Bị đơn anh Hoàng K đã được triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  • + Về quan hệ vợ chồng: Chị Đồng Thị D được ly hôn anh Hoàng K.
  • + Về con chung: Giao cháu Hoàng Diệp A, sinh ngày 02/02/2013 và cháu Hoàng M, sinh ngày 03/4/2015 cho chị Đồng Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét.
  • + Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  • + Về án phí: Chị Đồng Thị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Đồng Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, con chung với anh Hoàng K. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là “Ly hôn, con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hoàng K có hộ khẩu thường trú và nơi ở tại thôn P, thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Đồng Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Hoàng K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị D, anh K theo quy định tại Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ vợ chồng: Chị Đồng Thị D và anh Hoàng K kết hôn ngày 12/4/2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Chị D đã cung cấp được bản sao giấy đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh K là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, chị D xác định không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh K. Anh K xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, anh đồng ý ly hôn tuy nhiên anh không lên Toà án làm việc. Xét mâu thuẫn vợ chồng chị D, anh K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D.

[2.2] Về con chung: Chị D, anh K xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Diệp A, sinh ngày 02/02/2013 và cháu Hoàng M, sinh ngày 03/4/2015. Ly hôn, chị D có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung, anh K đồng ý để chị D được nuôi cả 02 con chung nên cần chấp nhận sự tự nguyện thoả thuận này. Giao cháu Hoàng Diệp A và cháu Hoàng M cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị D, anh K không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị D, anh K xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án để buộc chị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử cần tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  2. Xử:
    1. Về quan hệ vợ chồng: Chị Đồng Thị D được ly hôn anh Hoàng K.
    2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Diệp A, sinh ngày 12/2/2013 và cháu Hoàng M, sinh ngày 03/4/2015 cho chị Đồng Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết.

      Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    3. Về án phí: Chị Đồng Thị D phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0002136 ngày 12/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
    4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
    5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang,
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang,
  • - Các đương sự,
  • - UBND phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, con chung

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đồng Thị D xin ly hôn anh Hoàng K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger