Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH HẢI

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-6-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Sâm
  2. Ông Dương Đăng An

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ngọc Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 94/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thị T, sinh năm: 1973; Có mặt

Nơi cư trú: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận

- Bị đơn: Ông Lê C, sinh năm: 1970; Có yêu cầu xét xử vắng mặt

Nơi đăng ký thường trú: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Chỗ ở hiện nay: 6 đường số C, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Dương Thị T trình bày: Bà và ông Lê C đến với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 31/10/2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà ở nhà riêng của bà tại thị trấn K, huyện N. Quá trình chung sống, ông C thường tiêu xài hoang phí, không lo kinh tế gia đình, năm 2015 ông C tiêu xài hết 400 triệu đồng của bà bán đất rồi bỏ đi mà không cho bà biết là chi tiêu thế nào rồi về lại, bà cũng tha thứ, cho ông C cơ hội nhưng đến năm 2021, ông C lại tiếp tục nợ nần do cờ bạc và bỏ nhà đi, chủ nợ thường xuyên tìm đến nhà và hăm doạ mẹ con bà. Từ năm 2021 đến nay, ông C bỏ đi thành phố Hồ Chí Minh, không về thăm bà và con mà chỉ liên lạc qua điện thoại. Khi bà quyết định ly hôn bà có báo cho ông C nhưng ông C không chịu về để giải quyết mà kêu bà rút đơn chờ ông C trở về. Từ 05 năm nay vợ chồng không còn chung sống với nhau, không quan tâm chăm sóc nhau nên tình cảm của bà và ông C đã hết, bà giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông C để yên tâm làm lo cho con ăn học.

Hiện nay, bà đang bán tạp hoá tại nhà, thu nhập vào khoảng 5.000.000đồng một tháng. Trước đây khi còn chung sống, ông C không có công việc, chi tiêu trong nhà hoàn toàn do bà lo liệu. Hiên nay ông C làm gì thu nhập bao nhiêu bà không rõ vì ông C không báo cho bà biết. Vợ chồng bà có 01 con chung tên Lê Dương Bảo H, sinh ngày 22/11/2013. Bà yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Lê C vắng mặt nhưng có “Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt” trình bày ý kiến còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn, mong Toà án hoà giải cho vợ chồng về đoàn tụ với nhau, con chung ông đồng ý để bà T tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con nếu có điều kiện thì ông sẽ tự lo cho con. Do hiện nay ông phải đi làm xa nên yêu cầu được giải quyết, xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật, bị đơn vắng mặt tại phiên toà nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Về nội dung: Mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Dương Thị T và ông Lê C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không thể hòa giải được với nhau về tình cảm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T và giao con chung chưa thành niên cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông C không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Dương Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Dương Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê C, yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, bị đơn có nơi cư trú ở huyện N. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

Ông Lê C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Dương Thị T và ông Lê C tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 31/10/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do ông C không lo làm ăn, cờ bạc dẫn đến nợ nần ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, vợ con. Từ năm 2021 đến nay, ông C bỏ đi thành phố Hồ Chí Minh nên vợ chồng không còn chung sống, không quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện nay, tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông C không hàn gắn được, bà T xác định không còn tình cảm với chồng nên yêu cầu ly hôn với ông C, trường hợp HĐXX không chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà thì bà cũng không về chung sống với C. Phía ông C tuy được Toà án thông báo về yêu cầu khởi kiện của bà T, có mong muốn đoàn tụ với vợ con nhưng không tham gia hoà giải, không đến phiên toà cho thấy ông C chưa đủ thiện chí để hoà giải và níu kéo tình cảm vợ chồng. Xác nhận của BQL khu phố K, thị trấn K nơi bà T sinh sống cũng như trình bày của ông C tại “Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt” thể hiện vợ chồng ông C – bà T đã không còn chung sống từ năm 2021 đến nay. Ông C đi làm xa tại thành phố Hồ Chí Minh còn bà T và con thì ở tại khu phố K, thị trấn K; vợ chồng ông C, bà T có 01 con chung hiện đang ở với bà T, được nuôi dưỡng chăm sóc phát triển bình thường.

Xét thấy: Mâu thuẫn giữa bà T và ông C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T được ly hôn với ông C.

[2.2] Về con chung:

Vợ chồng bà T – ông C có 01 con chung tên Lê Dương Bảo H, sinh ngày 22/11/2013 hiện nay đang ở với bà T. Hiện nay, bà T cũng buôn bán tạp hoá và có thu nhập ổn định, ông C đi làm xa và cũng không chu cấp nuôi con từ năm 2021 đến nay. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển bình thường cho con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao 01 con chung là cháu Lê Dương Bảo H cho bà T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung:

Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

[4] Về án phí:

Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 28, 35; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị T đối với bị đơn ông Lê Cư .

  1. Về hôn nhân: Bà Dương Thị T được ly hôn với ông Lê Cư .
  2. Về con chung: Bà Dương Thị T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Lê Dương Bảo H, sinh ngày 22/11/2013. Ông Lê C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Dương Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 33 ngày 05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Bà Dương Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/6/2025), bị đơn vắng mặt - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án/.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Hải;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Hải;
  • - UBND xã Xuân Hải;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con.

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger