TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16-4-2025. V/v: “Ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Hinh;
Bà Lê Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: bà Dương Thị Vân - Là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: ông K' Dem - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 430/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Lê Thị V, sinh năm: 1975; nơi cư trú: A T, tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: ông Từ Đình T, sinh năm: 1973; nơi cư trú: A T, tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Bà V có mặt, ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của bà Lê Thị V thì:
- Về quan hệ hôn nhân: bà và ông T kết hôn năm 1997, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Hôn nhân do hai bên tự
nguyện, không tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại A T, tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung, có những bất đồng về quan điểm, lối sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau, thỉnh thoảng có đánh nhau. Vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện tại vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Từ Đình T.
- Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Từ Yến Vi, sinh ngày 28/3/1998 và Từ Thanh V1, sinh ngày 06/4/2000, hiện con đều đã trưởng thành, phát triển bình thường.
- Về tài sản chung: bà tự thỏa thuận với ông T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T nhưng ông T không đến Tòa làm việc.
Tại phiên tòa, bà Lê Thị V yêu cầu được ly hôn ông Từ Đình T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
Về tố tụng: trong quá trình thụ lý vụ án cũng như giải quyết vụ án, thì Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là bảo đảm theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: xét mâu thuẫn giữa bà V và ông T có xảy ra và thực tế đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc, trình bày ý kiến, tham gia phiên tòa là thể hiện thái độ bỏ mặc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V, cho bà V và ông T được ly hôn.
Về con chung: giữa bà V và ông T có hai con chung là Từ Yến V2, sinh ngày 28/3/1998 và Từ Thanh V1, sinh ngày 06/4/2000 đều đã trưởng thành, phát triển bình thường nên không đề cập.
Về tài sản chung: bà V tự thỏa thuận với ông T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về nợ chung: bà V xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về án phí: buộc bà V phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xuất phát từ yêu cầu khởi kiện của bà V yêu cầu được ly hôn với ông T nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
[2] Về thủ tục tố tụng: ông T vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: bà V và ông T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Theo bà V thì cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung, có những bất đồng về quan điểm, lối sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau, thỉnh thoảng có đánh nhau. Vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện tại vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Trước đây bà V đã làm đơn ly hôn nhưng sau đó rút đơn khởi kiện để vợ chồng có điều kiện hàn gắn nên Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 53/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11/7/2024 nhưng ông T vẫn không thay đổi. Nay bà V xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Tòa án triệu tập hợp lệ ông T nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa làm việc, không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng là thể hiện thái độ bỏ mặc. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà V và ông T đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà V. Cho bà V và ông T được ly hôn.
[4] Về con chung: giữa bà V và ông T có hai con chung là Từ Yến V2, sinh ngày 28/3/1998 và Từ Thanh V1, sinh ngày 06/4/2000 đều đã trưởng thành, phát triển bình thường nên không đề cập.
[5] Về tài sản chung: bà V tự thỏa thuận với ông T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
[6] Về nợ chung: bà V xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
[7] Về án phí: buộc bà V phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, các Điều 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho bà Lê Thị V và ông Từ Đình T ly hôn.
2. Về con chung: con chung là Từ Yến V2, sinh ngày 28/3/1998 và Từ Thanh V1, sinh ngày 06/4/2000 đều đã trưởng thành.
3. Về án phí: bà Lê Thị V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí bà V đã nộp theo biên lai thu số 0004406 ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng).
4. Về quyền kháng cáo: trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà Lê Thị V được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để xin xét xử phúc thẩm; riêng ông Từ Đình T vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Chiến |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Thị Chung – Nguyễn Xuân Hinh | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị V - Từ Đình T
