|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12/3/2025 V/v "Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đăng Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thùy Dương
Ông Đặng Trần Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hữu Yến Vân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà:
Bà Đinh Thị Bích H – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1036/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/11/2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 20/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kỳ Hồng H1, sinh năm: 1978; Cư trú tại: 2 Đồng Nai, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
Bị đơn: Ông Võ Tấn T, sinh năm: 1974; Cư trú tại: 2 Đồng Nai, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/11/2024, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kỳ Hồng H1 trình bày: Bà và ông Võ Tấn T đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố N vào ngày 31/12/2010. Sau một khoảng thời gian kết hôn, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên xảy ra cãi vả và cuộc sống trở nên nặng nề. Hiện nay, mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn với ông Võ Tấn T.
Về con chung: Bà và ông N có 02 con chung là Võ Minh H2, sinh ngày: 19/10/2003 và Võ Minh Đ, sinh ngày: 09/01/2012. Khi ly hôn nguyện vọng bà có nguyện vọng trực tiếp, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đ và yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) cho đến khi cháu Đ tròn 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: bà không yêu cầu tòa giải quyết.
Bị đơn ông Võ Tấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình trốn tránh không có mặt nên không có bản tự khai và không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tại phiên tòa sơ thẩm:
Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Kỳ Hồng H1 được ly hôn với ông Võ Tấn T. Về con chung: Giao con chung là Võ Minh Đ, sinh ngày: 09/01/2012 cho bà H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà H1 yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) cho đến khi cháu Đ tròn 18 tuổi là có căn cứ nên chấp nhận. Về tài sản chung, nợ chung: bà H1 không yêu cầu tòa giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kỳ Hồng H1 phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Võ Tấn T có hộ khẩu thường trú tại 2 Đồng Nai, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hiện ông H1 thường xuyên vắng mặt ở nhà do đi lăm ăn, thỉnh thoảng mới về nên không đến Tòa để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Do vậy, căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207; khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.
[2] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Kỳ Hồng H1 và ông Võ Tấn T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố N, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên xảy ra cãi vả và cuộc sống trở nên nặng nề. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa để giải quyết vụ án chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà H1.
Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp và thỏa đáng.
[3] Về con chung: Bà H1, ông T có 02 con chung là Võ Minh H2, sinh ngày: 19/10/2003 (đã trưởng thành) và Võ Minh Đ, sinh ngày: 09/01/20123. Hiện tại, cháu Đ còn nhỏ và cũng có nguyện vọng ở cùng với mẹ. Hơn nữa, từ trước đến nay việc chăm sóc cháu Đ do bà H1 chăm sóc, nuôi dưỡng và bà cũng có nguyện vọng được nuôi cháu nên tiếp tục giao cháu Đ cho bà H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là có căn cứ.
Tại phiên tòa, bà H1 yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) cho đến khi cháu Đ tròn 18 tuổi. Xét thấy, hiện nay bà H1 có công việc làm và thu nhập ổn định. Tuy nhiên, từ trước cho đến nay việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ do bà đảm nhiệm, ông T không có trách nhiệm với con nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Đ nên buộc ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H1 không yêu cầu tòa giải quyết.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kỳ Hồng H1 phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông Võ Tấn T phải chịu án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con chung.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207, Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kỳ Hồng H1 được ly hôn với ông Võ Tấn T .
- Về con chung: Giao cháu Võ Minh Đ, sinh ngày : 09/01/2012 cho bà Nguyễn Thị Kỳ Hồng H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà H1 yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) kể từ tháng 3/2025, vào ngày 15 hàng tháng cho đến khi cháu Đ tròn 18 tuổi.
- Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung, nợ chung: bà H1 không yêu cầu tòa giải quyết.
- Về án phí: Ông Võ Tấn T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự cấp dưỡng về nuôi con . Bà Nguyễn Thị Kỳ Hồng H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003271 ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà H1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quy định: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án tại thời gian thanh toán.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thùy Dương – Đặng Trần Khoa | Nguyễn Hữu Đăng Thanh |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Khánh Hòa;
- - Chi cục THADS thành phố Nha Trang;
- - UBND phường Phước Hải, thành phố Nha Trang (Giấy KH số 170, quyển số 01/2010 ngày 31/12/2010).
- - Các đương sự;
- - Lưu: HS, AV.
Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1036/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/11/2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 20/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/02/2025 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kỳ Hồng H1, sinh năm: 1978; Cư trú tại: 2 Đồng Nai, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt. Bị đơn: Ông Võ Tấn T, sinh năm: 1974; Cư trú tại: 2 Đồng Nai, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
