Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦ THỪA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11-4-2025

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Mạnh Quyết;
  2. Ông Trịnh Thế Phương Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa: ông Phạm Thanh Loan – Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 285/2024/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXX-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỷ T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Trần Vũ T1, sinh năm 1997; Địa chỉ: ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Long An.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt không rõ lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thị Mỷ T trình bày: Do quen biết tự tìm hiểu nên bà T, ông T1 tiến đến hôn nhân có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B huyện T tỉnh Long An vào ngày 02/10/2017. Thời gian đầu ông bà sống chung bên gia đình ông T1, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Năm 2019 phát sinh mâu thuẫn do bà T nghi ngờ ông T1 có mối quan hệ với người phụ nữ khác. Bà T đã nhiều lần khuyên răn ông T1 nhưng ông T1 vẫn không thay đổi. Vợ chồng thường xuyên gây cãi cho đến năm 2020 bà T về bên cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay bà T xác định vợ chồng không còn tình cảm, không còn tin tưởng, quan tâm chăm sóc nhau nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T1.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Quốc T2 sinh ngày 15/02/2018. Khi ly hôn bà T yêu cầu nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung: Không có. Ngoài ra bà T không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Trần Vũ T1 vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến hay yêu cầu cụ thể nào.

Tòa án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không hợp tác nên đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát biểu: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được bà T yêu cầu ly hôn là phù hợp nên đề nghị chấp nhận. Về con chung đề nghị giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Mỷ T và ông Trần Vũ T1 có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nay bà Huỳnh Thị M Tuyên yêu cầu ly hôn, ông T1 đang cư trú tại ấp V, xã B, huyện T, nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Bà Huỳnh Thị Mỷ T có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Trần Vũ T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mỷ T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1 với nguyên nhân do ông T1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác dẫn tới vợ chồng thường xuyên gây cãi. Bà T đã khuyên can nhiều lần nhưng ông T1 không thay đổi. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án thể hiện rõ nội dung bà T yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời gửi kèm theo bản pho tô đơn khởi kiện có thể hiện rõ nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Ông T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản trên tuy nhiên ông không có ý kiến phản đối. Do đó nhận thấy trong thời gian chung sống giữa bà T và ông T1 đã xảy ra mâu thuẫn nhưng cả hai bên không tìm cách để giải quyết mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây cãi hậu quả ông bà không còn quam tâm chăm sóc nhau. Tòa án tiến hành hòa giải cho ông bà trở về đoàn tụ song ông T1 không tham gia. Tại phiên tòa ông T1 cũng vắng mặt cho thấy ông không còn thiết tha với mối quan hệ hôn nhân này. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, bà T và ông T1 không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc nhau, không thực hiện đúng nghĩa vụ vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 con chung tên Trần Quốc T2 sinh ngày 15/02/2018.

N thấy: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, Cháu T2 có nguyện vọng được sống chung với bà T, ông T1 không yêu cầu được nuôi con cũng không có ý kiến phản đối về việc bà T xin nuôi con chung do đó HĐXX giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu giải quyết; ông T1 không có ý kiến trình bày nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[3.]. Tại phiên tòa, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là phù hợp nên được chấp nhận.

[4]. Về án phí sơ thẩm: Bà T chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Mỷ T đối với ông Trần Vũ T1.

Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị Mỷ T được ly hôn với ông Trần Vũ Thành

Về con chung: Giao con chung tên Trần Quốc T2 sinh ngày 15/02/2018 cho bà Huỳnh Thị M Tuyên trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi

Người không trực tiếp nuôi con chung được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, thì một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con cũng như mức cấp dưỡng.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Mỷ T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình. Khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009229 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí. Bà T không phải nộp thêm

3. Về quyền kháng cáo: Bà Huỳnh Thị Mỷ T và ông Trần Vũ T1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Thủ Thừa;
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Mỷ T - Trần Vũ T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger