Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày 08 - 4 - 2025

V/v tranh chấp xác định cha con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sang và bà Vũ Thị Thúy.

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình thụ lý số 256/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp xác định cha con "t heo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa:

  • - Nguyên đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  • - Bị đơn: Chị Lương Thị U, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Diệp Văn T1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh T, chị U, anh T1 vắng mặt - đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Lê Văn T trình bày:

Khoảng tháng 10 năm 2022, anh quen chị Lương Thị U. Khi đó, anh chị cùng lao động tự do tại thành phố T, anh tình cờ quen khi ở gần chỗ trọ của chị U. Do khi quen nhau chị U giới thiệu chị là người Nghệ A ra Thái Bình làm công nhân, thuê trọ ở cùng chị gái nên anh không biết việc chị U đã có chồng. Sau một thời gian yêu nhau, anh và chị U có quan hệ trước hôn nhân, đến khi chị U có thai, anh ngỏ lời muốn kết hôn cùng chị U thì chị U mới nói cho anh biết việc chị U đã có chồng là anh Diệp Văn T1. Do tính tình không hợp, chị U và anh T1 đã sống ly thân từ năm 2021, không ai quan tâm đến ai, nhưng do bận làm ăn và thiếu hiểu biết pháp luật nên chị U chưa gửi đơn xin ly hôn anh T1. Ngày 10/3/2023, chị U sinh 01 bé gái tại Bệnh viên Đa khoa T3 ở xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đến ngày 28/6/2024 chị U và anh T1 đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 23/2024/QĐCNTTLH ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Anh đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của bé gái do chị U sinh vào ngày 10/3/2023 theo giấy chứng sinh số 0002709 của bệnh viện Đ. Anh tự nguyện chịu toàn bộ chi phí giám định ADN.

* Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - chị Lương Thị U trình bày: Chị và anh Lê Văn T có quen biết nhau từ khoảng tháng 10/2022. Khi đó chị đang là vợ chồng hợp pháp với anh Diệp Văn T1 tuy nhiên do bất đồng quan điểm sống nên chị và anh T1 đang sống ly thân. Khi quen anh T chị chỉ nói với anh T chị là người Nghệ A ra Thái Bình làm công nhân chứ không nói với anh T việc chị đang có chồng. Sau đó, chị và anh T có phát sinh quan hệ tình cảm và quan hệ trước hôn nhân dẫn đến có thai. Do thiếu hiểu biết pháp luật nên mặc dù không còn tình cảm với anh T1 nhưng chị chưa làm thủ tục ly hôn với anh T1. Ngày 10/3/2023, chị sinh một bé gái tại Bệnh viện Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình theo giấy chứng sinh số 0002709, quyển số 27 của Bệnh viện Đ. Tuy nhiên, khi sinh con, chị không nói với anh T1 và cũng chưa làm thủ tục khai sinh, sau này do bận công việc nên đến nay chị vẫn chưa làm thủ tục khai sinh cho con. Đến năm 2024, chị mới nộp đơn xin ly hôn anh T1 và đã được Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên giải quyết cho ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 23/2024/QĐCNTTLH ngày 28/6/2024. Khi ly hôn, chị không nói với anh T1 và cũng không trình bày với Tòa án về việc chị có sinh một bé gái ngày 10/3/2023 nên tại Quyết định của Tòa án chỉ xác định chị và anh T1 có 02 người con chung sinh ngày 14/10/2017 và ngày 02/5/2020. Nay anh T khởi kiện yêu cầu xác định bé gái do chị sinh tại Bệnh viện Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình theo giấy chứng sinh số 0002709, quyển số 27 của Bệnh viện Đ là con của anh T, chị xác định thời điểm chị sinh con mặc dù chị đang sống ly thân với anh T1 và có phát sinh quan hệ với anh T nhưng con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh T1 nên chị đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu của anh T.

* Tại biên ghi lời khai ngày 02/01/2025, anh Diệp Văn T1 trình bày: Anh và chị U có kết hôn và đăng ký kết hôn năm 2018, đến năm 2021 anh chị ly thân và không ai quan tâm đến ai, việc ai người ấy làm. Sau đó đến tháng 6/2024 thì chị U về và yêu cầu giải quyết ly hôn với anh. Tại thời điểm ly hôn anh không hề viết việc chị U có sinh con vào ngày 10/3/2023 vì từ năm 2021 anh chị đã ly thân. Nay anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định bé gái do chị U sinh ngày 10/3/2023 là con chung của anh T và chị U, anh không có quan điểm hay có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật: áp dụng điều 88, khoản 1 điều 89, điều 91, 101, 102 Luật hôn nhân gia đình, khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 147 BLTTDS, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T. Xác định bé gái do chị Lương Thị U, sinh ngày 10/3/2023 theo Giấy chứng sinh số 0002709 quyển số 27 của Bệnh viện Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình là con đẻ của anh Lê Văn T. Chị U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các bên được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Chị U có nơi thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án tranh chấp "xác định cha, con" giữa anh T và chị U và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Thái Bình.

[2] Về tố tụng: Anh T, chị U và anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về yêu cầu xác định cha cho con:

Chị U và anh T1 đều xác định anh T1 và chị U có tự nguyện kết hôn năm 2018, do phát sinh mâu thuẫn nên chị U và anh T1 đã sống ly thân từ năm 2021. Chị U và anh T đều xác định có quan hệ tình cảm từ năm 2022 sau đó chị U mang thai khi chưa ly hôn với anh T1. Sau khi sinh con chị U không nói với anh T1 và khi ly hôn chị U cũng không trình bày với Tòa án nên đến ngày 28/6/2024, chị U và anh T1 được Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên giải quyết cho ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 23/2024/QĐCNTTLH, tại Quyết định chỉ xác định chị U và anh T1 có 02 con chung sinh ngày 14/10/2017 và ngày 02/5/2020.

Tại Kết luận giám định ADN số 169/25/KLGDADN-PYQG ngày 12/3/2025 của V kết luận: “Anh Nguyễn Văn T2 có quan hệ huyết thống cha - con với bé gái do chị Lương Thị U sinh ngày 10/3/2023 theo Giấy chứng sinh số 0002709, quyển số 27 của Bệnh viện Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình, độ tin cậy 99,9999%”

Từ ý kiến trình bày của các đương sự và Kết quả xét nghiệm ADN, có đủ căn cứ xác định anh Lê Văn T là cha đẻ của bé gái do chị Lương Thị U sinh ngày 10/3/2023 theo Giấy chứng sinh số 0002709, quyển số 27 của Bệnh viện Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về chi phí tố tụng: Anh T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí giám định ADN là 7.640.000 đồng nên cần chấp nhận.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, chị U phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Anh Thành, chị U, anh T1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 89, 91, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn T: Xác định anh Lê Văn T là cha đẻ của bé gái do chị Lương Thị U, sinh ngày 10/3/2023 theo Giấy chứng sinh số 0002709, quyển số 27 của Bệnh viện Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  2. Về chi phí tố tụng: Anh T chịu toàn bộ chi phí giám định là 7.640.000 đồng (Anh T đã nộp đủ).
  3. Về án phí: Chị U phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại anh T 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004390 ngày 28/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
  4. Về quyền kháng cáo: A, chị U, anh T1 vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp xác định cha con

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định cha con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử xác nhận cha con cho anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger