Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 25/2025/HNGĐ - ST

Ngày 05 - 6 - 2025

“V/v ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Thanh Bình

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hà Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Nam- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2025/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 2, Trại giam V (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 16 tháng 4 năm 2025, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T kết hôn vào ngày 13 tháng 9 năm 1996, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phú (Nay là phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc). Sau khi kết hôn, bà về làm dâu và chung sống với gia đình ông T. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng những năm đầu hòa thuận, hạnh phúc. Đến khoảng năm 2013 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung về mọi mặt trong cuộc sống hàng ngày. Mâu thuẫn đỉnh điểm là năm 2016 ông T đã có hành vi xâm phạm tính mạng của bà và bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 12 năm 06 tháng tù về tội “giết người”. Hiện ông T đang chấp hành án tại Trại giam V. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung là anh Nguyễn Văn T1, sinh ngày 24/5/1997 và anh Nguyễn Văn S, sinh ngày 19/3/1999. Hiện nay, anh T1 và anh S đều đã trưởng thành, tự túc lao động được nên các con ở với ai do các con tự quyết định. Ly hôn bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Trung T vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 08/5/2025, ông T xác nhận với lời trình bày của bà H về thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống, thời gian mâu thuẫn và một phần nguyên nhân như bà H trình bày là đúng. Tuy nhiên, theo ông nguyên nhân mâu thuẫn còn là do bà H không tôn trọng ông và mẹ đẻ của ông. Chính từ những mâu thuẫn trên nên năm 2016 ông đã có hành vi xâm phạm tính mạng của bà H và bị Tòa án xử phạt 12 năm 06 tháng tù về tội “giết người”. Bản thân ông trước đó đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc do có hành vi ngược đãi bà H. Kể từ ngày ông đi chấp hạnh án, bà H chưa một lần đến thăm ông. Nay bà H xin ly hôn, quan điểm của ông cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, bà H xin ly hôn ông hoàn toàn đồng ý.

Về con chung: Ông T xác nhận, vợ chồng ông có 02 con chung là anh Nguyễn Văn T1, sinh ngày 24/5/1997 và anh Nguyễn Văn S, sinh ngày 19/3/1999. Hiện nay, anh T1 và anh S đều đã trưởng thành, tự túc lao động được nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án tiến hành xác minh tại địa phương là Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi bà H và ông T chung sống với nhau sau khi kết hôn. Đại diện chính quyền địa phương xác nhận bà H và ông T là công dân có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Bản thân ông T hiện đang là phạm nhân chấp hành án tại trại giam V. Quá trình chung sống thì địa phương cho biết bà H và ông T thường xuyên xảy ra cãi vã, xô sát. Năm 2016 ông T có hành vi xâm phạm tính mạng của bà H và bị Tòa án xét xử như bà H và ông T trình bày là đúng. Nay đối với yêu cầu xin ly hôn của bà H với ông T, quan điểm của địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H, cho bà H được ly hôn ông Nguyễn Văn T.
  • - Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên giải quyết tranh chấp về ly hôn với bị đơn là ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[3] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn T là hợp pháp. Quá trình chung sống đến tháng 2013 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng không quan tâm và không còn tình cảm với nhau. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên to tiếng, cãi vã và xô sát. Năm 2013 ông T có hành vi ngược đãi vợ và bị Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh V quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng. Đến tháng 6/2016 ông T có hành vi xâm phạm tính mạng của bà H và bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử 12 năm 06 tháng tù về tội “giết người”. Bản thân ông T cũng xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu Tòa án giải quyết cho cho bà ly hôn, ông T đồng. Lẽ ra, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà H và ông T. Tuy nhiên, do ông T vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà H được ly hôn ông T.

[4] Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung là anh Nguyễn Văn T1, sinh ngày 24/5/1997 và anh Nguyễn Văn S, sinh ngày 19/3/1999. Hiện nay, anh T1 và anh S đều đã trưởng thành, tự túc lao động được nên các con chung ở với ai do các con chung quyết định. Bà H và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Bà H và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Văn T.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0006546 ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Vĩnh Yên;
  • - UBND phường Đồng Tâm, TP Vĩnh Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lương Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ - ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H ly hôn Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger