Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST

Ngày 05/6/2025

“V/v Xác định con cho cha”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Nguyệt và bà Phạm Thị Minh Huyền.

Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HNGĐ ngày 10/3/2025 về việc “Xác định con cho cha” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: anh Hà Văn C; nơi thường trú: tổ E, khu M, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt, có đơn xin xử án vắng mặt.

Bị đơn: chị Nguyễn Thị Cẩm T; nơi thường trú: tổ E, khu M, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt, xin xử án vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Phạm Đắc H; nơi thường trú: tổ F, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử án vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn anh Hà Văn C trình bày: anh và chị Nguyễn Thị Cẩm T có quan hệ như vợ chồng từ khoảng năm 2020, sau đó chị T có thai và sinh 01 con trai vào ngày 28/10/2021 theo Giấy chứng sinh số 13265 ngày 29/10/2021 tại Bệnh viện S. Trong thời gian đó chị T vẫn trong giai đoạn hôn nhân với anh Phạm Đắc H và hai bên sống ly thân. Ngày 11/5/2022, chị T và anh H ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 119/2022/QĐCNHGT của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Ngày 08/6/2022, anh và chị T đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố C. Sau khi chị T sinh con, anh đã đưa cháu trai do chị T sinh ra (tên Hà Minh Q – tên tạm đặt khi giám định ADN) đi giám định ADN tại Công ty cổ phần D. Tại phiếu kết quả phân tích ADN xác định: anh Hà Văn C và cháu Hà Minh Q có quan hệ huyết thống: cha - con. Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của con, anh C đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xác định cháu Hà Minh Q, sinh ngày 28/10/2021 do chị Nguyễn Thị Cẩm T sinh ra theo giấy chứng sinh số 13265 tại Bệnh viện S là con anh.

Tại bản tự khai chị Nguyễn Thị Cẩm T trình bày: chị là vợ anh Hà Văn C1 đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố C năm 2022. Chị và anh C có quan hệ tình cảm, yêu thương nhau từ năm 2020 khi chị chưa ly hôn với anh Phạm Đắc H. Ngày 11/5/2022 chị và anh Phạm Đắc H ly hôn. Quá trình chung sống với anh H, chị và anh H đã sống ly thân và không có quan hệ với nhau. Từ năm 2020, chị đã chung sống với anh C như vợ chồng và có thai. Đến ngày 28/10/2021, chị đã sinh 01 con trai và có giấy chứng sinh của Bệnh viện S. Bé trai do chị sinh ra là con của chị và anh Hà Văn C chứ không phải con anh Phạm Đắc H. Nay anh Hà Văn C yêu cầu xác định cháu bé do chị sinh ra ngày 28/10/2021 theo Giấy chứng sinh số 13265 ngày 29/10/2021 tại Bệnh viện S (tên giả định khi đi giám định là Hà Minh Q)con của anh Hà Văn C, chị hoàn toàn nhất trí. Chị đã được xem phiếu kết quả phân tích ADN ngày 10/4/2024 của Công ty cổ phần D, chị thừa nhận kết quả phân tích trên là đúng, chị không đề nghị giám định lại hay giám định bổ sung ADN.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Đắc H đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vắng mặt tại các buổi làm việc và sau đó có đơn đề nghị giải quyết và xét xử án vắng mặt thể hiện quan điểm: anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Cẩm T từ năm 2007, quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nên chị T đã bỏ đi nơi khác sinh sống, hai bên sống ly thân từ khoảng năm 2020 cho đến khi được Toà án giải quyết cho ly hôn ngày 11/5/2022. Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án của Toà án anh mới biết chị T đã sinh 01 con vào ngày 28/10/2021. Anh xác định đó không phải là con anh vì anh và chị T đã sống ly thân từ 2020, hai bên không còn chung sống hay quan tâm gì đến nhau nữa. Về việc anh Hà Văn C yêu cầu Toà án xác nhận con cho cha, anh không có ý kiến gì, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng quan hệ tranh chấp và áp dụng các quy định của pháp luật giải quyết vụ án chính xác. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, căn cứ Điều 89, Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của anh Hà Văn C, xác định cháu Hà Minh Q (tên tạm đặt khi giám định ADN) do chị Nguyễn Thị Cẩm T sinh ngày 28/10/2021 là con trai anh Hà Văn C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: anh Hà Văn C khởi kiện yêu cầu xác định con cho cha, các đương sự đều có nơi thường trú tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Cẩm Phả và xác định quan hệ pháp luật “Xác định con cho cha” là đúng quy định tại khoản 4 Điều 28 và các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều đã được nhận các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các đương sự đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

* Về quan tranh chấp: xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều khẳng định: chị T và anh H là vợ chồng và ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 119/2022/QĐCNHGT ngày 11/5/2022 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả. Trước khi ly hôn, chị T và anh H đã sống ly thân. Chị T quan hệ với anh Hà Văn C như vợ chồng từ năm 2020 và đã sinh 01 cháu trai vào ngày 28/10/2021. Ngày 08/6/2022, anh C và chị T đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố C. Chị T, anh H và anh C đều khẳng định cháu trai do chị T sinh ra ngày 28/10/2021 là con chị T và anh C đúng như phiếu kết quả phân tích ADN ngày 10/4/2024 của Công ty cổ phần D.

Từ những đánh giá phân tích như đã nêu trên, căn cứ vào quy định tại Điều 89, Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn C; phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, xác định cháu Hà Minh Q (tên tạm đặt khi xét nghiệm ADN), sinh ngày 28/10/2021 theo Giấy chứng sinh số 13265 ngày 29/10/2021 tại Bệnh viện S1 của anh Hà Văn C3 quy định tại Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về án phí: anh Hà Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 89, Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn C: xác định cháu Hà Minh Q (tên tạm đặt khi xét nghiệm ADN), sinh ngày 28/10/2021 theo Giấy chứng sinh số 13265 ngày 29/10/2021 tại Bệnh viện S là con của anh Hà Văn C
  2. Anh Hà Văn C, chị Nguyễn Thị Cẩm T có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Hà Minh Q (tên tạm đặt khi xét nghiệm ADN), sinh ngày 28/10/2021 theo Giấy chứng sinh số 13265 ngày 29/10/2021 tại Bệnh viện S theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: anh Hà Văn C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh C đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000842 ngày 05/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả. Anh Hà Văn C đã nộp đủ án phí.
  4. Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả;
  • - Các đương sự;
  • - UBND p Cẩm Bình, TP cẩm Phả;
  • - Lưu HSVA – VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về xác định con cho cha

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xác định con cho cha
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh C xác nhận con cho cha
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger