|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04-4-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Sáu
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đinh Đắc Tư;
- Ông Ngô Hoàng Bá.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Lê Tấn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 243/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Bé S-1987-Yêu cầu vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn V-1985-Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Bé S trình bày: Bà S và ông V do mai mối, được sự chấp thuận của gia đình nên tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào 19/6/2004 (âm lịch), có đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào ngày 13/10/2010. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hiện nay vẫn còn sống chung nhà, nhưng không ai quan tâm đến ai. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay gây gỗ, cự cải nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục sống chung nên bà S yêu cầu ly hôn
với ông V. Về con chung: Bà S xác định có 03 con chung với ông V tên là Đỗ Thị Yến N-07/5/2005, Đỗ Tấn Đ-29/10/2006 và Đỗ Tấn T-04/9/2018. Bà S yêu cầu nuôi dưỡng cháu Đ và cháu T, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu N đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tòa án triệu tập hợp lệ ông V nhiều lần đến Tòa để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông V không đến để trình bày ý kiến và yêu cầu của mình. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Chấp nhận cho S được ly hôn với ông V. Về con chung: Giao cháu Đ và cháu T cho bà S nuôi dưỡng cho đến khi mỗi cháu đủ 18 tuổi, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu N đã trưởng thành và có khả năng lao động, đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa không lý do nên căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét hôn nhân của bà S và ông V là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà S xác định vợ chồng đã có một thời gian chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, hiện vợ chồng vẫn sống chung nhà, nhưng không ai quan tâm đến nhau. Theo bà S trình bày thì nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay gây gỗ, cự cải nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng cho nhau, không có biện pháp hàn gắn tình cảm nên bà S yêu cầu ly hôn với ông V. Ông V đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa để trình bày ý kiến và yêu cầu của mình. Điều này, cho thấy ông V không muốn hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn giữa ông bà trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận cho bà S được ly hôn với ông V là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Bà S xác định có 01 con chung với ông V tên là Đỗ Thị Yến N-07/5/2005, Đỗ Tấn Đ-29/10/2006 và Đỗ Tấn T-04/9/2018. Bà S yêu cầu nuôi dưỡng cháu Đ và cháu T, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu N đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu giải quyết. Hiện nay, cháu Đ và cháu T đang do bà S nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà S yêu cầu nuôi dưỡng cháu Đ và cháu T, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc nuôi dạy con là trách nhiệm chung của cha mẹ. Việc giao con cho ai nuôi dưỡng cũng phải xem xét quyền lợi mọi mặt của con. Từ trước đến nay, các con chung do bà S trực tiếp nuôi dưỡng, môi trường sống và sinh hoạt của các cháu đã ổn định. Bà S có thu nhập ổn định đảm bảo việc nuôi dạy các cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, ý kiến của cháu Đ và cháu T cũng đồng ý sống chung với mẹ, không yêu cầu gì ở cha. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cháu Đ và cháu T cho bà S tiếp tục nuôi dưỡng, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Đối với cháu N đã trưởng thành và có khả năng lao động, đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là phù hợp.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
[7] Xét lời phát biểu của Viện kiểm sát là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Bé S được ly hôn với ông Đỗ Văn V.
Về con chung: Công nhận bà S và ông V có 03 con chung tên là Đỗ Thị Yến N-07/5/2005, Đỗ Tấn Đ-29/10/2006 và Đỗ Tấn T-04/9/2018. Giao cháu Đ và cháu T cho bà S tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi mỗi cháu đủ 18 tuổi, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu N đã trưởng thành và có khả năng lao động, đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông V không ai được cản trở. Bà S và ông V có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị Bé S phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007210 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, công nhận bà S đã nộp xong.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thu Sáu |
4
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
5
|
Đinh Đắc Tư |
Ngô Hoàng Bá |
Nguyễn Thị Thu Sáu |
6
Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 25/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho ly hôn
