Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số:25/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 29-5-2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ngô Thanh Sỹ.

Các thẩm phán: Ông Đỗ Minh Nhựt.

Ông Võ Văn Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhật Hiếu – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 76/2025/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 25/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Lại Hồng C, sinh năm 1979.
  • - Bị đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1984.
  • Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
  • · Người kháng cáo: Bị đơn bà Hoàng Thị H.

(Ông C, bà H có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm:

* Theo đơn khởi kiện ngày 08/7/2024, trong quá trình làm việc nguyên đơn ông Lại Hồng C trình bày:

Trên cơ sở tự nguyện, vào năm 2004, ông và bà Hoàng Thị H tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Cuộc sống chung của ông bà thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, mâu thuẫn vấn đề tiền bạc không rõ ràng và tình cảm nên vợ chồng không còn yêu thương nhau như cặp vợ chồng khác. Nay ông nhận thấy không còn tình cảm với bà H nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Lại Duy Q – sinh năm 2005; Lại Hoàng Tiến D - sinh ngày 19/9/2007 và Lại Thị Ngọc Á - sinh ngày 16/7/2012.

Cháu Q đã đủ tuổi trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông giao cháu D và cháu Á cho bà Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, ông không cấp dưỡng nuôi con cho bà H.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình làm việc, bị đơn bà Hoàng Thị H trình bày:

Bà thống nhất lời trình bày của ông C về điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thì bà cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, thỉnh thoảng vợ chồng có cãi nhau do bất đồng về việc làm kinh tế trong gia đình. Nay ông C yêu cầu ly hôn, bà không đồng ý, bà muốn ông C cho bà cơ hội hàn gắn. Trường hợp ông C cương quyết ly hôn thì bà đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn cho bà và ông C theo quy định pháp luật. Con chung bà xin nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật TTDS; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lại Hồng C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Lại Hồng C được ly hôn với bà Hoàng Thị H.
  2. Về con chung: Giao cháu Lại Hoàng Tiến D, sinh ngày 19/9/2007 và cháu Lại Thị Ngọc Á, sinh ngày 16/7/2012 cho bà Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

Khi cần thiết, ông C – bà H có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con.
  2. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.
  3. Về nợ chung: theo các đương sự là không có và cũng không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 21/02/2025, bà Hoàng Thị H có đơn kháng cáo Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm của người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa ông Lại Hồng C và bà Hoàng Thị H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai ngày 17/9/2004, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Theo ông C, trong quá trình sinh sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là liên quan đến kinh tế gia đình và tình cảm, còn bà Hoàng Thị H trình bày “Tôi là Hoàng Thị H xin ly hôn với ông Lại Hồng C ...... tôi quyết định ly hôn cho xin Tòa giải quyết cho chúng tôi ly hôn trong ôn hòa.......”.

Xét thấy: Hôn nhân giữa ông C với bà H không còn khả năng đoàn tụ, cả hai bên đều xin được ly hôn, nên Tòa án giải quyết cho ông C được ly hôn với bà H là có cơ sở.

Việc bà Hoàng Thị H cho rằng, nguyện vọng không muốn ly hôn nhưng tại biên bản tự khai ngày 26/6/2024 bà H trình bày xin được ly hôn với ông C, còn về việc xác minh nguyên nhân mâu thuẫn, ngày 07/10/2024 Tòa án tiến hành xác minh tại UBND xã X, nội dung: “Tình trạng hôn nhân giữa ông C và bà H có mâu thuẫn hay không thì chính quyền địa phương không biết. Do bà H và ông C không báo cáo chính quyền địa phương nhưng hiện nay ông C và bà H không còn sống chung”.

Về hòa giải: Do nguyên đơn ông Lại Hồng C có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và bà H cũng vắng mặt, nên Tòa án đã lập Biên bản về việc vắng mặt đương sự.

Mặt khác, bà Hoàng Thị H còn cho rằng đã nhiều lần yêu cầu giải quyết tài sản chung trong cùng vụ án, nhưng không được hướng dẫn. Vấn đề này bà H đưa ra là không có cơ sở, vì trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần lên làm việc và hòa giải, nhưng đều vắng mặt, chỉ có viết bản tự khai ngày 26/8/2024 và không đề cập đến việc chia tài sản chung. Còn nếu sau khi Tòa án giải quyết ly hôn xong, bà H vẫn có quyền khởi kiện chia tài sản chung bằng một vụ kiện khác.

Ngoài ra bà H cho rằng; Tòa án không tống đạt các văn bản tố tụng cho bà H là không có cơ sở vì: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng không tống đạt được do bà H không có mặt ở nhà, nên Tòa án đã tiến hành niêm yết Từ những phân tích nêu trên: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Hoàng Thị H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà H nộp đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong hạn luật định, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.

[3] Về nội dung kháng cáo:

Bà H kháng cáo cho rằng: Bà không muốn ly hôn và mong muốn ông C cho bà cơ hội hàn gắn, nhưng cấp sơ thẩm không tạo điều kiện để đoàn tụ. Bà đã trình bày có yêu cầu giải quyết tài sản chung nhưng Tòa án không giải thích, hướng dẫn. Tòa án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không tống đạt cho bà các văn bản tố tụng.

Nhận thấy:

Bà Hoàng Thị H và ông Lại Hồng C tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 17/6/2004, tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp theo Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, trong đó đã có đầy đủ nội dung nguyên đơn yêu cầu, nhưng bà H không có ý kiến phản hồi. Ngày 26/8/2024, bà H có bản tự khai và trình bày xin ly hôn với ông C vì quá trình chung sống vợ chồng cũng phát sinh mâu thuẩn trong việc làm ăn kinh tế, bà xin ông C cho bà cơ hội làm lại từ đầu nhưng ông C không cho bà cơ hội, bà xin Tòa giải quyết cho ly hôn trong ôn hòa và công bằng, bà mong muốn được nuôi dưỡng các con chung. Như vậy, bà cũng thừa nhận mâu thuẩn vợ chồng đã phát sinh, tình cảm trong hôn nhân không còn được tôn trọng, vợ chồng không còn quan tâm nhau, thể hiện tại phiên tòa phúc thẩm các bên đã có lời lẽ xúc phạm nhau. Ông C kiên quyết xin ly hôn vì cho rằng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã X và nhiều lần triệu tập, niêm yết tại nhà, nhưng bà H không đến, nên việc bà H cho rằng Tòa án sơ thẩm không tạo điều kiện để hòa giải cho bà đoàn tụ là không có cơ sở. Cấp sơ thẩm xác định mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc để giải quyết cho ly hôn là có căn cứ.

Về con chung: Bà H mong muốn được nuôi dưỡng các con, ông C cũng thống nhất giao 02 con chung là cháu Lại Hoàng Tiến D, sinh ngày 19/9/2007 và cháu Lại Thị Ngọc Á, sinh ngày 16/7/2012 cho bà H nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Cấp sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận về nuôi con chung là phù hợp.

Cũng theo bản tự khai ngày 26/8/2024, bà H có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung, nhưng không nêu được tài sản chung gồm những gì, ở đâu, giá trị tài sản; không nêu được nợ của ai, bao nhiêu. Về con chung bà H xin được nuôi các con chung. Như phân tích ở phần trên, Tòa án đã triệu tập bằng hình thức niêm yết nhiều lần, nhưng bà H đều vắng mặt. Tòa án tiến hành niêm yết Thông báo Kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án vào ngày 13/12/2024, bà H vắng mặt không lý do; Niêm yết Quyết định Hoãn phiên tòa đến ngày 31/12/2024 bà H có đơn xin hoãn phiên tòa. Phiên tòa được Hoãn đến ngày 16/01/2025, bà H có đơn xin hoãn phiên tòa lý do bị bệnh. Tòa ban hành Quyết định hoãn phiên tòa đến ngày 13/02/2025 và tống đạt trực tiếp cho bà H, bà H vắng mặt không lý do, Tòa sơ thẩm xét xử vắng mặt bà H là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Như vậy, về thủ tục tống đạt, cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Bà H không đến Tòa án làm việc, nộp đơn phản tố về yêu cầu chia tài sản chung, cũng như cung cấp các tài liệu, chứng cứ cần thiết khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên Tòa án sơ thẩm căn cứ yêu cầu của nguyên đơn là về tài sản chung do các đương sự tự thỏa thuận để giải quyết vụ án là có cơ sở. Trường hợp có tài sản chung mà các đương sự không tự thỏa thuận giải quyết được, bà H có quyền làm đơn khởi kiện về chia tài sản sau khi ly hôn nếu có yêu cầu.

Về nợ chung: Ông C khai không có và không ai yêu cầu, nên không xem xét.

Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị H.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị H; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lại Hồng C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Lại Hồng C được ly hôn với bà Hoàng Thị H.
  2. Về con chung: Giao cháu Lại Hoàng Tiến D, sinh ngày 19/9/2007 và cháu Lại Thị Ngọc Á, sinh ngày 16/7/2012 cho bà Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ. Khi cần thiết, ông C – bà H có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con.
  2. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.
  3. Về nợ chung: Theo các đương sự là không có và cũng không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  4. Về án phí: Ông Lại Hồng C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011267 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí. Ông Lại Hồng C đã nộp đủ án phí.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp, theo biên lai số 0026670 ngày 07/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.
  6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục THA-DS huyện Xuân Lộc;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thanh Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/HNGĐ-PT ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 25/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger