|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 27- 6 - 2025
“V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Chọn |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Kim Hường |
| Bà Đặng Thị Bích Vân |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Trịnh Văn Đương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2025/TLPT-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”.
Do bản án hôn nhân sơ thẩm số: 23/2025/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 22/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích G, sinh năm 1993. Có mặt
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Tiêu Thanh T, sinh năm 1993. Có mặt
Địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang
Chỗ ở hiện nay: Khu phố T, P.T, TP ., tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích G trình bày:
Chị Nguyễn Thị Bích G và anh T1 Thanh Tấn chung sống với nhau vào năm 2022 trên cơ sở tự nguyện, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/11/2022. Về con chung chị và anh T có một người con chung tên Tiêu Khả V. Về tài sản chung và nợ chung chị G xác nhận không có.
Trong quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, nhưng thời gian về sau thì giữa anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và bất đồng quan điểm. Do chị và anh T chung sống cùng nhà với mẹ ruột anh T và trong lúc chị đi làm thì mẹ chồng đã tự ý bồng con chị đi tỉnh Đồng Tháp mà không hỏi ý kiến chị, khi đó con chị mới được hơn 12 tháng tuổi, khi đi làm về chị không thấy con nên vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn cự cải với nhau, do đó chị đã bỏ về nhà mẹ ruột tại huyện T. Sau đó chị có liên lạc với anh T tìm con nhưng không liên lạc được, chị thường xuyên đi ngang nhà anh T ở M nhưng nhà đều đóng cửa, vì vậy chị đã khởi kiện xin ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh T. Chị G xác nhận chị và anh T đã ly thân từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay.
Nay nhận thấy tình cảm giữa chị và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị G yêu cầu: Chị G xin được ly hôn với anh Tiêu Thanh T; yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Tiêu Khả V, sinh ngày 24/04/2023 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Tiêu Thanh T trình bày:
Vào năm 2022 anh và chị Nguyễn Thị Bích G thành lập gia đình với nhau, hai bên có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống anh và chị G có 01 con chung tên Tiêu Khả V, sinh ngày 24/04/2023. Anh T thừa nhận trong thời gian chung sống anh và chị G thường xuyên cự cải bất đồng quan điểm, sau đó chị G bỏ đi về nhà mẹ ruột ở, khi chị G đi về nhà mẹ ruột sinh sống thì cháu V do anh và mẹ anh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay. Từ đó đến nay chị G không liên lạc gì với anh để hỏi thăm về con chung. Do đó, tại phiên tòa anh T có ý kiến như sau:
Về hôn nhân, tài sản và nợ chung: Đồng ý theo yêu cầu của chị G;
Về con chung: Anh T không đồng ý giao con chung cho chị G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, vì hiện nay chị G đi làm không có thời gian nuôi con và kinh tế của chị G không ổn định. Mặc khác, từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu V do anh trực tiếp chăm sóc. Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Tiêu Khả V, sinh ngày 24/04/2023 và tự nguyện không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con.
Tại bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 23/2025/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích G và anh Tiêu Thanh T.
Về con chung: Giao cháu Tiêu Khả V, sinh ngày 24/04/2023 cho chị Nguyễn Thị Bích G được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu V tròn 18 tuổi. Chị G tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Tiêu Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tài sản, nợ, án phí và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, anh Tiêu Thanh T kháng cáo với nội dung yêu cầu tòa cấp phúc thẩm xét xử: Giao cháu Tiêu Khả V, sinh ngày 24/04/2023 cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Bích G giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn, anh Tiêu Thanh T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của các đương sự tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm, đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Tiêu Thanh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Xét đơn kháng cáo của bị đơn đã đúng quy định về quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị đơn theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ hôn nhân, tài sản, nợ, án phí: Sau khi xét xử sơ thẩm chị G và anh T không kháng cáo nên có hiệu lực pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của anh T yêu cầu giao cháu Tiêu Khả V1, sinh ngày 24/4/2023 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. lý do, chị G không đủ điều kiện kinh tế nuôi con và là lao động chính trong gia đình, vừa phải chăm sóc mẹ già và người chị bị bệnh.
Xét về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung, căn cứ chứng cứ thể hiện trong hồ sơ cho thấy anh chị đều đủ điều kiện kinh tế nuôi con chung;
Về điều kiện chỗ ở ổn định: Chị G hiện có chỗ ở ổn định tại ấp T, xã T, huyện T, chị G đi làm gần nhà, ở nhà có mẹ và chị gái hỗ trợ chăm sóc cháu; còn anh T có nhà ở tại ấp H, xã M, huyện C nhưng hiện nay cả gia đình đi Bình Dương làm thuê có mang theo cháu V, sống tạm trong căn nhà người anh tại công trình, anh vừa đi làm vừa chăm sóc con;
Đối với cháu Tiêu Khả V, sinh ngày 24/04/2023 hiện đang sống với anh T tại Bình Dương, là bé gái chưa đủ 36 tháng tuổi. Việc cháu V đang sống tại Bình Dương cùng bên gia đình anh là do bên gia đình anh tự ý đưa cháu đi, không có sự bàn bạc với chị G trong khi cháu còn chưa dứt sữa mẹ. Từ vấn đề mâu thuẫn giữa vợ chồng trong cuộc sống, anh chị không thể dung hòa và không có tiếng nói chung nhằm đảm bảo quyền lợi cho con được sự chăm sóc đầy đủ của cha và mẹ, mặc dù anh chị đã thống nhất ly hôn. Cho nên trong khoảng thời gian ly thân hơn 01 năm nhưng anh chị không tạo điều kiện cho nhau trong việc gặp gỡ, chăm sóc con chung, mỗi người đều có lý do riêng.
Mặc dù từ tháng 9/2024 đến hiện nay cháu V đang sống bên gia đình anh T tại Bình Dương, theo lời khai của anh cháu vẫn ổn và phát triển bình thường. Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình quy định:
“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.
Hơn nữa, cháu V là con gái, mẹ trực tiếp chăm sóc sẽ phù hợp hơn vì sự phát triển của cháu phức tạp hơn so với con trai. Anh T cho rằng chị G không đủ điều kiện nuôi con nhưng chưa có chứng cứ gì chứng minh cho việc này. Do vậy, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của cháu V và tạo điều kiện cho cháu V có cuộc sống ổn định, tốt nhất. Cấp sơ thẩm giao cháu V cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi chị G trực tiếp nuôi con, trong khoảng thời gian cháu V chưa đủ 18 tuổi, anh T có chứng cứ chứng minh chị không đủ điều kiện nuôi con thì anh có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ kiện khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của anh Tiêu Thanh T. Giữ nguyên Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST, ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
[4] Về án phí :
Án phí sơ thẩm: Giữ nguyên theo bản án sơ thẩm
Án phí phúc thẩm: Anh T phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Tiêu Thanh T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 55, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích G và anh Tiêu Thanh T.
2. Về con chung: Buộc anh Tiêu Thanh T giao cháu Tiêu Khả V, sinh ngày 24/04/2023 cho chị Nguyễn Thị Bích G được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi. Chị G tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Tiêu Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết anh chị đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Bích G và anh Tiêu Thanh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình:
- Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bích G phải nộp số tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đã nộp xong theo biên lai số 0005561 ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Án phí phúc thẩm: Anh Tiêu Thanh T có nghĩa vụ nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), đã nộp xong theo biên lai thu số 0010534 ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, Kiên Giang.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chọn |
Bản án số 25/2025/HNGĐ-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 25/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: G-T
