|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/DSST. Ngày: 27/5/2025 “V/v Kiện đòi nợ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Hùng.
Bà Nguyễn Thị Thìn.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đăng Toàn - Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào - tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khá - Kiểm sát viên.
Ngày 27/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số /16/2025/TLST-DS ngày 03/4/2025 về việc “Kiện đòi nợ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-DS ngày 12/5/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Trọng D, sinh năm 1957 (Có mặt).
- Bà Đào Thị S, sinh năm 1963 (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền của bà S: Ông Nguyễn Trọng D, sinh năm 1957 (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
* Bị đơn:
- Anh Nguyễn Trọng Á, sinh năm 1989 (Có mặt).
- Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1993 (Có mặt).
Đều địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/12/2024, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng D và bà Đào Thị S trình bày:
Ngày 11/4/2023, vợ chồng ông Nguyễn Trọng D, Đào Thị S có cho vợ chồng anh Nguyễn Trọng Á và chị Nguyễn Thu T (là con trai và con dâu của ông, bà) vay số tiền là 110.000.000 đồng và thỏa thuận là mỗi tháng trả 5.000.000 đồng, thời điểm trả bắt đầu từ tháng 8 dương lịch năm 2023. Hai bên không có thỏa thuận về lãi suất cho vay. Chị T là người trực tiếp viết giấy mượn tiền này và có đầy đủ chữ ký của các bên. Trong quá trình vay, vợ chồng anh Ánh, chị T đã trả cho vợ chồng ông, bà được 10.000.000 đồng, nên số tiền anh Ánh, chị T còn nợ là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ông đã nhiều lần yêu cầu anh Ánh, chị T trả dần theo thảo thuận nhưng anh, chị không trả. Vì vậy, ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh Ánh, chị T phải có trách nhiệm trả vợ chồng ông, bà số tiền 100.000.000 đồng với hình thức trả dần mỗi tháng là 5.000.000 đồng cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Còn về tiền lãi, do hai bên không thỏa thuận nên ông, bà không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn là anh Nguyễn Trọng Á và chị Nguyễn Thu T thống nhất trình bày: Anh, chị đều xác định ngày 11/4/2023 có vay của bố mẹ đẻ anh Ánh là ông Nguyễn Trọng D và bà Đào Thị S số tiền 110.000.000 đồng. Trong giấy vay nợ có thỏa thuận là vợ chồng anh, chị có trách nhiệm trả mỗi tháng 5.000.000 đồng, thời điểm trả bắt đầu từ tháng 8 dương lịch. Sau đó, vợ chồng anh có trả được 10.000.000 đồng, nhưng do kinh tế khó khăn nên vợ chồng anh, chị chưa trả được hết nợ. Anh, chị xác định còn nợ ông D, bà S số tiền là 100.000.000 đồng, nhưng không thể trả dần số tiền 5.000.000đ/tháng mà sẽ trả dần với số tiền là 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi trả hết nợ. Anh, chị hoàn toàn nhất trí với ý kiến của ông D và bà S về việc không yêu cầu giải quyết về lãi.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành nên phải đưa vụ kiện ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng D yêu cầu anh Ánh, chị T phải trả số tiền 100.000.000 đồng với hình thức trả dần mỗi tháng là 5.000.000 đồng cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Còn về tiền lãi, do hai bên không thỏa thuận nên ông không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Ánh và chị T xác định còn nợ ông D, bà S số tiền là 100.000.000 đồng. Anh, chị đề nghị cho anh, chị được trả dần với số tiền là 1.000.000đ/tháng cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Anh, chị hoàn toàn đồng ý với ý kiến của ông D, bà S là không yêu cầu giải quyết về lãi.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm:
+ Về chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Toà án thụ lý vụ án, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, thông báo và tiến hành mở phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Thẩm phán, Hội đồng xét xử độc lập, thư ký phiên toà, nguyên đơn, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 116; Điều 117; Điều 119; Điều 278; Điều 280; Điều 282; Điều 357; Điều 401; Điều 402; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng D và bà Đào Thị S.
Về số tiền nợ: Buộc anh Nguyễn Trọng Á và chị Nguyễn Thu T phải trả nợ cho ông Nguyễn Trọng D và bà Đào Thị S số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) với hình thức trả nợ dần hằng tháng số tiền 5.000.000đ/tháng. Thời điểm trả nợ kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông D và bà S có đơn yêu cầu thi hành khoản nợ, nếu anh Ánh và chị T chưa thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền nợ chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng D và bà Đào Thị S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông D và bà S được miễn tạm ứng án nên không phải giải quyết. Bị đơn là anh Nguyễn Trọng Á và chị Nguyễn Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về nội dung:
Ông Nguyễn Trọng D và bà Đào Thị S khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Trọng Á và chị Nguyễn Thu T phải trả số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng theo Giấy mượn tiền ngày 11/4/2023 nên đây là tranh chấp dân sự về việc kiện đòi nợ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn là anh Nguyễn Trọng Á và chị Nguyễn Thu T có địa chỉ cư trú tại Tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, vắng mặt bà Đào Thị S. Tuy nhiên, bà S đã ủy quyền cho ông D nên việc vắng mặt của bà S không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà S là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông D và bà S yêu cầu anh Ánh, chị T phải trả vợ chồng ông bà số tiền còn nợ là 100.000.000 đồng với hình thức trả nợ dần hằng tháng số tiền 5.000.000đ/ tháng cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ.
Xét yêu cầu trả nợ của ông D, bà S thì thấy:
Căn cứ Giấy mượn tiền đề ngày 11/4/2023 do ông D, bà S giao nộp cho Tòa án thể hiện, số tiền cho vay là 110.000.000 đồng. Bên cho vay và bên vay đã thỏa thuận thời hạn trả bắt đầu từ tháng 8 dương lịch năm 2023 và mỗi tháng trả 5.000.000 đồng. Đối với anh Ánh và chị T đều đã thừa nhận, chị T là người viết giấy mượn tiền và các bên đã ký đầy đủ, điều đó thể hiện ý chí rõ ràng, việc vay mượn là có thật, bên cho vay đã giao tiền và bên vay đã nhận tiền. Nay, ông D, bà S và anh Ánh, chị T đều xác định, trong quá trình vay vợ chồng anh Ánh, chị T đã trả được số tiền 10.000.000 đồng nên thực tế còn nợ 100.000.000 đồng, đây là sự kiện không phải chứng minh. Nay ông D, bà S yêu cầu anh Ánh, chị T phải trả số tiền này theo thỏa thuận là có căn cứ, bởi lẽ: Thỏa thuận này của hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên có hiệu lực pháp luật và bên vay phải có nghĩa vụ thực hiện trả nợ định kỳ theo thỏa thuận. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ buộc anh Ánh và chị T phải trả ông D, bà S số tiền 100.000.000 đồng và với hình thức trả dần hằng tháng là 5.000.000đ/tháng cho đến khi trả nợ xong toàn bộ khoản nợ. Vì ông D, bà S không xác định ngày trả nợ là ngày nào nên nghĩa vụ trả nợ của anh Ánh và chị T được tính kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.
Về tiền lãi: Ông D, bà S và anh Ánh, chị T đều xác định không thỏa thuận về lãi và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng D và bà Đào Thị S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Ông D và bà S được miễn tạm ứng án phí nên không phải giải quyết; Bị đơn là anh Nguyễn Trọng Á và chị Nguyễn Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 116; Điều 117; Điều 119; Điều 278; Điều 280; Điều 282; Điều 357; Điều 401; Điều 402; Điều 463; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng D và bà Đào Thị S.
- [1] Về số tiền nợ:
- [2] Về án phí:
- [3] Quyền kháng cáo:
Buộc anh Nguyễn Trọng Á và chị Nguyễn Thu T phải trả nợ cho ông Nguyễn Trọng D và bà Đào Thị S số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) với hình thức trả nợ dần hằng tháng số tiền 5.000.000đ/tháng. Thời điểm trả nợ được tính kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông D và bà S có đơn yêu cầu thi hành khoản nợ, nếu anh Ánh và chị T chưa thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền nợ chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng D và bà Đào Thị S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Trọng Á và chị Nguyễn Thu T phải chịu 5.000.000đ (Năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
* Trường hợp bản án, quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thơm |
Bản án số 25/2025/DSST ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN về kiện đòi nợ
- Số bản án: 25/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi nợ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ vay tài sản giữa ông D,,bà Sứ và anh Ánh, chị Thuỷ
