Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 25 2025/DSST

Ngày: 04/6/2025

V/v: Tranh chấp HĐTD.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ- TỈNH THANH HOÁ

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương

  • - Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thưởng

  • 2. Ông Phạm Văn Tiến

  • - Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà:

  • Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND TP.Thanh Hoá

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hóa:

  • Bà Nguyễn Thị Quý - Kiểm sát viên

Ngày 04/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số 160/2024/ TLST- DS, ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXX-ST ngày 22/4/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1)

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch HĐQT

Người đại diện theo uỷ quyền: Nguyễn Hồng B – Trưởng Phòng xử lý nợ Phản ứng nhanh Khách hàng cá nhân miền B – Khối Quản trị rủi ro Ngân hàng TMCP V

Người đại diện được uỷ quyền lại: Ông Hà Văn T

Địa chỉ: Tầng C, tòa nhà B - 29 Đại lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ của tố tụng của V1:

Công ty cổ phần M

Địa chỉ: Tòa nhà V, HL, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T1 – Tổng giám đốc

Đại diện được ủy quyền lại: Ông Lê Ngọc L và ông Lê Phúc L1 - Chuyên viên xử lý nợ;

Địa chỉ: Tầng C, tòa nhà B - 29 Đại lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1978

Chị Trần Thị Bích N, sinh năm 1978

Địa chỉ: SN A N, phường B, Thành phố T, Thanh Hóa

Tại phiên tòa có mặt đại diện của V2 và đại diện của Công ty cổ phần M. Vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn trình bày:

Anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N vay vốn của V2, theo Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022, với số tiền vay: 1,550,000,000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng); Thời hạn vay: 60 tháng (Bằng chữ: Sáu mươi tháng), tính từ ngày 28/07/2022 đến ngày 28/07/2027; Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền mua chiếc xe hiệu TOYOTA Land Cruiser, số máy19826752TR, dùng để đi lại; Lãi suất được hai bên thống nhất như trong hợp đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay, anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N đã thế chấp tài sản đảm bảo cho khoản vay là: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTALand Cruiser, số máy 19826752TR, số khung JTEBX3FJ20K292191; số máy: 19826752TR; Biển kiểm soát: 36A-797.68 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh T cấp ngày 25/07/2022 mang tên anh Trần Văn H. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản Thế chấp. Xác lập chi tiết theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2207236306066 ngày 25/07/2022 giữa anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N với Ngân hàng V2. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền vay cho anh H và chị N vay, anh H và chị N cũng đã trả được một số tiền cho ngân hàng. Tuy nhiên anh H và chị N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V2 kể từ ngày 16/09/2024 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay.

Đến ngày 28/3/2025 Ngân hàng TMCP V đã bán 95% khoản nợ của anh H và chị N cho công ty cổ phần M, theo Hợp đồng mua bán nợ số 09/2025/VPB – JUPITER và phụ lục 01 hợp đồng mua bán nợ số 09/2025/VPB – JUPITER ngày 28/3/2025.

Tính đến ngày 04/6/2025, số tiền anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N còn nợ số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022 là 1.017.893.341đ, trong đó nợ gốc là 858.885.035đ, nợ lãi và lãi chậm trả là 158.008.306đ.

Nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc anh H và chị N thanh toán 5% khoản nợ của Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022 cho ngân hàng và 95% khoản nợ của Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022cho công ty cổ phần M.

Nếu đến hạn trả nợ anh H và chị N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì ngân hàng V2 và công ty cổ phần M có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Land Cruiser, số máy 19826752TR, số khung JTEBX3FJ20K292191; số máy: 19826752TR; Biển kiểm soát: 36A-797.68 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh T cấp ngày 25/07/2022 mang tên ông Trần Văn H. Tất cả các phụ tùng, thiết bị. vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp. Xác lập chi tiết theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2207236306066 ngày 25/07/2022 giữa Ông Trần Văn H và bà Trần Thị Bích N với Ngân hàng V2. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ hoặc trường hợp tài sản bảo đảm đã bị tẩu tán, Ông Trần Văn H và bà Trần Thị Bích N vẫn phải tiếp tục trả nợ cho ngân hàng và công ty cổ phần M cho đến khi các khoản nợ được tất toán.

Quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn anh Trần Văn H trình bày:

Vợ chồng tôi có ký với Ngân hàng V Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022 với số tiền vay: 1.550.000.000 đồng. Tôi thống nhất với ngân hàng số tiền vợ chồng tôi còn nợ ngân hàng theo tính toán của ngân hàng.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Land Cruiser, số máy 19826752TR, số khung JTEBX3FJ20K292191; số máy: 19826752TR; Biển kiểm soát: 36A-797.68 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh T cấp ngày 25/07/2022. Hiện nay chiếc xe này vợ chồng tôi vẫn đang quản lý, không liên quan đến quyền lợi của ai khác

Hiện nay do tình hình kinh tế khó khăn, làm ăn không được thuận lợi nên tôi không có khả năng thanh toán toàn bộ số nợ trên cho ngân hàng trong một lần, đề nghị ngân hàng cho vợ chồng tôi được thanh toán dần.

Quá trình giải quyết vụ án Công ty cổ phần M trình bày:

Công ty cổ phần M đã mua lại 95% khoản nợ của anh H và chị N từ Ngân hàng TMCP V, theo Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022. Tính đến ngày 04/6/2025, số tiền anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N còn nợ số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022 là 1.017.893.341đ, trong đó nợ gốc là 858.885.035đ, nợ lãi và lãi chậm trả là 158.008.306đ.

Công ty cổ phần M đề nghị Tòa án buộc anh H và chị N phải có trách nhiệm thanh toán 5% khoản nợ trên cho Ngân hàng V2 và 95% khoản nợ trên cho công ty cổ phần M.

Nếu anh H và chị N vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V2 và Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành xác minh, kê biên phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Land Cruiser, số máy 19826752TR, số khung JTEBX3FJ20K292191; số máy: 19826752TR; Biển kiểm soát: 36A-797.68 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh T cấp ngày 25/07/2022 để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán.

Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ hoặc trường hợp tài sản bảo đảm đã bị tẩu tán, Ông Trần Văn H và bà Trần Thị Bích N vẫn phải tiếp tục trả nợ cho ngân hàng và công ty cổ phần M cho đến khi khoản nợ được tất toán.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của Đại diện của VKS:

Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý đến quá trình xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và phía Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Phía bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Điều 91; 95 luật các tổ chức tín dụng 2010;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng V và Công ty cổ phần M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về Tố tụng:

Ngân hàng TMCP V với Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N đã ký kết hợp đồng cho vay, mục đích vay để mua xe ô tô phục vụ đi lại, do Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N phải trả khoản nợ. Do đó đây là tranh chấp về dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N. Anh H đề nghị xét xử vắng mặt, chị N đã được Tống đạt hợp lệ lần 2, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó HĐXX căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác định công ty cổ phần M là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng nay HĐXX xét thấy Công ty cổ phần M đã mua bán một phần khoản nợ xấu của V2 trong vụ án này. Do đó xác định Công ty cổ phần M là người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ của V2 là phù hợp với Khoản 4 Điều 74 của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N vay vốn của V2, theo Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022, với số tiền vay: 1.550.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng); Thời hạn vay: 60 tháng; Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền mua chiếc xe hiệu TOYOTA Land Cruiser, số máy19826752TR, dùng để đi lại; Lãi suất được hai bên thống nhất như trong hợp đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận. Mặc dù ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo nợ và gọi điện thoại nhắc nhở thanh toán, tuy nhiên anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N vẫn không hợp tác thanh toán. Do đó Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N phải có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ gốc và số tiền lãi của khoản vay. Quá trình giải quyết vụ án, ngày 28/3/2025 Ngân hàng TMCP V đã bán 95% khoản nợ trên của anh H và chị N cho công ty cổ phần M.

Tính đến ngày 04/6/2025, anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N còn nợ số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022 là 1.017.893.341đ, trong đó nợ gốc là 858.885.035đ, nợ lãi và lãi chậm trả là 158.008.306đ. Nay Công ty cổ phần M và ngân hàng V2 đề nghị Tòa án buộc anh H và chị N phải có trách nhiệm thanh toán 5% khoản nợ trên cho Ngân hàng V2 và 95% khoản nợ trên cho công ty cổ phần M.

Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu của Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với quy định của pháp luật và của ngân hàng N1. Nên HĐXX có cơ sở chấp nhận buộc buộc anh H và chị N phải có trách nhiệm thanh toán 5% khoản nợ trên cho Ngân hàng V2 và 95% khoản nợ trên cho công ty cổ phần M là phù hợp Khoản Điều 95 luật các tổ chức tín dụng 2010.

Đối với quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản thế chấp để đảm bảo cho việc Thi hành án:

Để đảm bảo cho khoản vay, anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N đã thế chấp tài sản đảm bảo cho khoản vay là: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Land Cruiser, số máy 19826752TR, số khung JTEBX3FJ20K292191; số máy: 19826752TR; Biển kiểm soát: 36A-797.68 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh T cấp ngày 25/07/2022 mang tên anh Trần Văn H. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản Thế chấp. Xác lập chi tiết theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2207236306066 ngày 25/07/2022 giữa anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N với Ngân hàng V2. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Do đó HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M về việc quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản thế chấp để đảm bảo cho việc thi hành án theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp là phù hợp với quy định tại Điều 318 và Khoản 7 Điều 323 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp không đủ để trả nợ thì anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng TMCP V và công ty cổ phần M cho đến khi tất toán khoản nợ trên.

*Về án phí: Anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N phải chịu án dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả, theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 của NQ 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án là: 42.536.800₫.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên;

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 74; Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 292; 293; 299; Khoản 3 Điều 307; 317;318; Khoản 7 Điều 323 của Bộ luật dân sự.

Khoản 2 Điều 91; Khoản1,2 Điều 95 luật các tổ chức tín dụng 2010.

Khoản 2 Điều 26 của NQ 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu của ngân hàng TMCP V và công ty cổ phần M.

Buộc anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V 5% khoản tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022 là 50.929.917đ ( Trong đó nợ gốc: 42.944.252đ; nợ lãi: 7.985.665đ) và trả cho Công ty cổ phần M 95% khoản tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay số LN2207236306066 ngày 25/07/2022 là 966.963.424₫ (Trong đó nợ gốc: 815.940.783đ; nợ lãi: 151.022.641đ).

Kể từ ngày 05/6/2025, anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số LN2207236306066 ngày 25/07/2022, kèm theo phụ lục hợp và khế ước nhận nợ, được ký kết giữa ngân hàng TMCP V với anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N cho đến khi thanh toán xong khoản nợ ( theo tỉ lệ trả cho ngân hàng TMCP V 5% và trả cho công ty cổ phần M 95%).

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, ngân hàng TMCP V và công ty cổ phần M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ khoản tiền nợ trên, thì ngân hàng TMCP V và công ty cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Land Cruiser, số máy 19826752TR, số khung JTEBX3FJ20K292191; số máy: 19826752TR; Biển kiểm soát: 36A-797.68 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh T cấp ngày 25/07/2022 mang tên anh Trần Văn H theo hợp đồng thế chấp số LN2207236306066/HĐTC ngày 25/07/2022 giữa anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N với Ngân hàng V2 để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp không đủ để trả nợ thì anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng TMCP V và công ty cổ phần M cho đến khi tất toán khoản nợ trên.

2. Về án phí: Anh Trần Văn H và chị Trần Thị Bích N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 42.536.800₫.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP V toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 20.044.000đ, theo biên lai thu số 0002067 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự;

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng TMCP V và công ty cổ phần M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự,

  • - VKSND TP. Thanh hóa;

  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25 2025/DSST ngày 04/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 25 2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NH VP + H + N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger