|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2025/DS-ST Ngày 25 - 02 - 2025 V/v “Tranh chấp HĐ đặt cọc” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin
- Ông La Văn Việt
Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Kim Thoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 07/2024/TL-ST ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST - DS ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Đào Thị Ý N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Mai Văn G, sinh năm 1958. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 12 năm 2024 và các lời trình bày tiếp theo tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đào Thị Ý N trình bày như sau:
Vào ngày 01/7/2021, bà có ký hợp đồng đặt cọc với ông Mai Văn G về việc mua bán một phần đất thuộc phần thửa 752 tờ bản đồ 23 diện tích 2.571m², một phần thửa đất số 549 tờ bản đồ 23 diện tích 874,3m² và một phần thửa số 574 tờ bản đồ 23 diện tích 280m² đất cùng tọa lạc ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An có chiều ngang 15m x dài 60 m. Giá chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Cùng ngày bà đã đưa đủ số tiền cho ông G. Hai bên thỏa thuận sẽ ra công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên vào ngày 01/7/2021 nhưng đến nay ông G vẫn không làm thủ thủ tục chuyển nhượng. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ngày 01 tháng 7 năm 2021 giữa bà và ông G;
- Buộc ông G phải thanh toán tiền cọc đã nhận là 1.500.000.000 đồng.
Bị đơn ông Mai Văn G trình bày: Năm 2021, ông có giao kết hợp đồng đặt cọc giữa ông với bà Đào Thị Ý N để bán thửa đất thuộc phần thửa 752 tờ bản đồ 23 diện tích 2.571m², một phần thửa đất số 549 tờ bản đồ 23 diện tích 874,3m² và một phần thửa số 574 tờ bản đồ 23 diện tích 280m² đất cùng tọa lạc ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An có chiều ngang 15m x dài 60 m. Giá chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Bà N đã giao cho ông 1.500.000.000 đồng nhưng đất không tách thửa được nên ông không thể chuyển quyền được cho bà N. Qua yêu cầu khởi kiện của bà N nói trên, ông đồng ý nhưng hiện nay ông không có tiền trả bà N. Khi nào bán được đất ông sẽ trả tiền bà N.
Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm Phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng đã tiến hành làm việc đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu của bà N về việc yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc với ông G ngày 01/7/2021 và yêu cầu trả lại tiền cọc là 1.500.000.000 đồng tại các phần đất thuộc phần thửa 752 tờ bản đồ 23 diện tích 2.571m², một phần thửa đất số 549 tờ bản đồ 23 diện tích 874,3m² và một phần thửa số 574 tờ bản đồ 23 diện tích 280m² đất cùng tọa lạc ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An có chiều ngang 15m x dài 60 m. Xét việc các đương sự thỏa thuận nhận một phần diện tích đất không đảm bảo điều kiện tách thửa nên việc hai bên không tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng là lỗi khách quan. Hợp đồng đặt cọc nói trên vô hiệu ngay từ lúc xác lập. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Trên đây là ý kiến kiểm sát viên tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: xét yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Ý N nêu trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” là những tranh chấp quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Đ, tỉnh Long An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[1.2] Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết.
Bà Đào Thị Ý N khởi kiện được xác định là nguyên đơn; ông Mai Văn G được xác định là bị đơn.
Tranh chấp hợp đồng đặt cọc của giữa bà N và ông G thuộc trường hợp vô hiệu do vi phạm pháp luật về tách thửa nên cần trả cho nhau những gì đã nhận vẫn còn thời hiệu theo quy định Điều 155 và 429 Bộ luật dân sự 2015.
[1.3] Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng.
Chứng cứ được các bên xác định là Hợp đồng đặt cọc ngày 03/5/2023.
Tòa án xét xử trên cơ sở chứng cứ do người khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập khi thấy cần thiết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Về chứng cứ chứng minh cho lời trình bày các đương sự Tòa án đã thu thập đầy đủ.
Thời điểm phát sinh tranh chấp Bộ luật dân sự 2015 và Luật Đất đai năm 2013 đang có hiệu lực pháp luật nên được áp dụng.
Tòa án lập biên bản về việc công khai chứng cứ, hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án xét xử trong phạm vi đương sự có yêu cầu.
[2]. Về nội dung:
Bà Đào Thị Ý N yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc ký ngày 01/7/2021 giữa bà với ông Mai Văn G và yêu cầu ông G trả 1.500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng theo Hợp đồng đặt cọc giữa bà N và ông G thỏa thuận chuyển nhượng đất LUA thuộc phần các thửa phần thửa 752 tờ bản đồ 23 diện tích 2.571m², một phần thửa đất số 549 tờ bản đồ 23 diện tích 874,3m² và một phần thửa số 574 tờ bản đồ 23 diện tích 280m² đất cùng tọa lạc ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An có chiều ngang 15m x dài 60 m là vi phạm điều kiện tách thửa quyết định số 42/2021/QĐ-UBND ngày 18/10/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh L nên hợp đồng đặt cọc ngày 01/7/2021 giữa bà N với ông G là vô hiệu ngay từ lúc xác lập. Do đó cần vô hiệu hợp đồng đặt cọc này và buộc ông G phải trả lại bà N số tiền đã nhận là 1.500.000.000 đồng là có căn cứ. Đối với ông G cho rằng chưa có tiền trả khi nào bán được đất sẽ trả bà N. Lời trình bày của ông G về việc chậm trả tiền cho bà N là không có căn cứ để chấp nhận.
[3]. Về án phí, theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án, ông G được miễn án phí. H lại tiền tạm ứng án phí cho bà Đào Thị Ý N.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483; Điều 227, Điều 228, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 288, Điều 468, Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Ý N về việc tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc” với ông Mai Văn G.
- Vô hiệu hợp đồng đặt cọc ghi ngày 01/7/2021 giữa bà Đào Thị Ý N với ông Mai Văn G liên quan đến thửa đất liên quan đến phần các thửa phần thửa 752 tờ bản đồ 23 diện tích 2.571m², một phần thửa đất số 549 tờ bản đồ 23 diện tích 874,3m² và một phần thửa số 574 tờ bản đồ 23 diện tích 280m² đất cùng tọa lạc ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An có chiều ngang 15m x dài 60 m;
- Buộc ông Mai Văn G phải trả cho bà Đào Thị Ý N 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Mai Văn G được miễn án phí. H lại cho bà Đào Thị Ý Như tiền tạm ứng án phí đã nộp 28.800.000 đồng theo biên lai số 0004382 ngày 02/01/2021 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa.
- Án xét xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm vụ án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Thị Mộng T |
Bản án số 25/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 25/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Thị Ý N "Trah chấp hợp đồng đặt cọc" Mai Văn G
