TAND QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số : 25/2025/DS -ST Ngày: 23/05/2025 V/v: Tranh Hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Quỳnh Hoa
Ông Trần Ngọc Thịnh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: Bà Nguyễn Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án án Dân sự thụ lý số 08/2024/DSST ngày 10/01/2024 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXX ngày 07/05/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N (VCB)
Trụ sở: Số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Tổng Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Đặng K – Giám đốc V – Chi nhánh Sở giao dịch.
Địa chỉ: Ngân hàng TMCP N (V) – Chi nhánh sở G – Số A L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Ông Đ ủy quyền lại cho: Bà Lại Thị C và ông Phạm Việt P – Trưởng phòng và Phó trưởng phòng khách hàng bán lẻ 1 – V1 – chi nhánh Sở G.
Bị đơn: Ông Vũ Minh K, sinh năm 1976
Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ G phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông K: Luật sư Nguyễn Anh T1, Luật sư Vũ Văn T2 – Công ty L; Địa chỉ: Số B H, phường Y, quận H, Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn và Luật sư Nguyễn Anh T1 có mặt tại phiên tòa. Luật sư Vũ Văn T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngân hàng TMCP N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện ông Vũ Minh K về tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Trong Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai và tại các buồi hòa giải do Tòa án tiến hành, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày như sau:
Ngày 16/06/2021, khách hàng là ông Vũ Minh K có Phương án sử dụng vốn vay gửi Ngân hàng. Sau khi xem xét Hồ sơ vay vốn và tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay, Ngân hàng đã đồng ý cho ông K vay tiền theo Hợp đồng cho vay số 21/KHBL1-BDS-K/0234 đã ký ngày 18/06/2021 với một số nội dung sau:
- - Số tiền vay: 3.000.000.000 đồng
- - Thời hạn cho vay: 240 tháng kể từ khi giải ngân vốn vay lần đầu tiên.
- - Mục đích sử dụng vốn vay: Xây sửa nhà ở
- - Lãi suất cho vay:
+ Lãi suất cho vay là lãi suất tại thời điểm mỗi lần Bên vay rút vốn theo thông báo định kỳ 01 tháng/lần của V và được cố định trong 24 tháng kể từ ngày giải ngân (Lãi suất theo thông báo hiện tại - tháng 06/2021 là 8,4%/năm). Trường hợp khách hàng chuyển nợ không đủ tiêu chuẩn (phân loại nợ từ nhóm 2 - nhóm 5) trong thời gian hưởng ưu đãi lãi suất: khoản vay sẽ áp dụng lãi suất bằng mức lãi suất sau thời gian ưu đãi kể từ thời điểm phát sinh nợ không đủ tiêu chuẩn. Trong trường hợp khách hàng chuyển lại nợ nhóm 1 (sau khi bị phân loại nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5): khoản vay sẽ không được hưởng mức lãi suất ưu đãi trở lại.
+ Sau 24 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất của những khoản giải ngân này sẽ được áp dụng theo lãi suất huy động VND 12 tháng trả lãi sau do Bên cho vay niêm yết (+) biên độ 3,5%/năm nhưng không thấp hơn sàn lãi suất cho vay dài hạn mua bất động sản theo sản phẩm chuẩn của Bên cho vay tại thời điểm định lại lãi suất, K1 điều chỉnh lãi suất: định kỳ 03 tháng/lần kể từ thời điểm điều chỉnh;
- Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn: 150% lãi suất vay trong hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn cho đến khi khách hàng trả hết phần dư nợ gốc quá hạn.
- Kỳ hạn trả nợ gốc: gốc trả 01 tháng/lần (Kèm theo Giấy nhận nợ ngày 23/6/2021)
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Vũ Minh K mới trả được 102.000.000 đồng tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn là 275.095.212 đồng và nợ lãi quá hạn là 83.991 đồng. Do đó Ngân hàng đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn từ ngày 26/7/2022.
Khoản vay 2: Căn cứ “Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng ngày 05/01/2022”; “Yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 21/4/2022” của ông K, Ngân hàng đã phát hành và thay đổi hạn mức cho ông K loại thẻ tín dụng theo hình thức có tài sản bảo đảm: thẻ V VISA số tài khoản: V00107104117; với tổng hạn mức thẻ là: 160.000.000VND (Bằng chữ: Một trăm sáu mươi triệu đồng chẵn). Kể từ tháng 04 năm 2022, ông K đã không thanh toán dư nợ thẻ tín dụng trên theo quy định của Ngân hàng, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông K để đề nghị chủ thẻ này phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại ông K vẫn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 159.981.852 đồng và lãi, phí phát sinh.
Biện pháp bảo đảm: Các khoản vay của ông K tại Ngân hàng được đảm bảo bằng tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 21/KHBL1-TC/0234 ngày 18/06/2021 - số công chứng: 3519.2021/HĐTC do công chứng viên Văn phòng C1, thành phố Hà Nội chứng nhận ngày 18/06/2021 là quyền sử dụng đất ở và tài sản khác gắn liền với đất, cụ thể như sau:
Thửa đất:
- Thửa đất số: 1 - Tờ bản đồ số: 5
- Địa chỉ: phường T, quận H, thành phố Hà Nội
- Diện tích: 70,0m2 (bằng chữ: Bảy mươi phẩy không mét vuông)
- Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng;
- Mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị; - Thời hạn sử dụng: lâu dài
- Nguồn gốc sử dụng: Được tặng cho đất được Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất.
- • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 729477; Số vào sổ cấp GCN: CS-HM 26040 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 21/05/2021.
- • Giá trị tài sản thế chấp là: 4.550.000.000(Bốn tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng
Mặc dù đã được V - Chi nhánh Sở giao dịch tạo điều kiện cho ông K về thời thời gian thu xếp tài chính để trả nợ; Đồng thời V - Chi nhánh Sở giao dịch đã có văn bản yêu cầu ông K thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên. Tuy nhiên, tính đến nay, ông K vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, phí cho Ngân hàng, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với Ngân hàng, không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của Ngân hàng.
Từ những nội dung và lý do đã trình bày nêu trên, Ngân hàng kính đề nghị Tòa án giải quyết những yêu cầu sau yêu cầu:
1, Buộc ông Vũ Minh K phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 06 tháng 05 năm 2025, cụ thể:
*Hợp đồng cho vay số: 21/KHBL1-BDS-K/0234 đã ký ngày 18/06/2021, số tiền là: 3.710.922.308 đồng; Trong đó:
- + Nợ gốc là: 2.898.000.000 đồng;
- + Nợ lãi trong hạn là: 801.381.243 đồng
- + Nợ lãi quá hạn là: 11.541.065 đồng
*Dư nợ thẻ tín dụng Kỳ sao kê ngày 20 tháng 04 năm 2025, số tiền là: 536.540.640 đồng; Trong đó:
- + Nợ gốc: 159.981.852 đồng
- + Nợ lãi: 76.917.978 đồng
- + Phí do chậm trả thẻ: 299.640.810 đồng (bao gồm phí vượt hạn mức, phí chậm trả và phí thường niên).
2, Buộc ông K phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số: 21/KHBL1-BDS-K/0234 đã ký ngày 18/06/2021; Cùng Đề nghị phát hành thể tín dụng kiêm hợp đồng các điều khoản và điều kiện phát hàng và sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế ký ngày 05/01/2022; kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án cho đến ngày thực tế ông K trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.
3, Nếu ông K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng thông qua Chi nhánh Sở giao dịch có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông K theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 21/KHBL1-TC/0234 ngày 18/06/2021 - số công chứng: 3519.2021/HĐTC do công chứng viên Văn phòng C1, thành phố Hà Nội chứng nhận ngày 18/06/2021 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
* Ông Vũ Minh K trình bày: Năm 2021, ông có vay tiền Ngân hàng V – chinh nhánh Sở Giao dịch để xây sửa nhà ở, giữa ông và Ngân hàng V – Chi nhánh Sở Giao dịch đã ký Hợp đồng cho vay số: 21/KHBL1-BDS-K/0234 đã ký ngày 18/06/2021 để vay số tiền: 3.000.000.000 đồng với thời hạn cho vay: 240 tháng kể từ khi giải ngân vốn vay lần đầu tiên; Lãi suất cho vay là lãi suất tại thời điểm mỗi lần Bên vay rút vốn theo thông báo định kỳ 01 tháng/lần của V và được cố định trong 24 tháng kể từ ngày giải ngân (Lãi suất theo thông báo hiện tại - tháng 06/2021 là 8,4%/năm), sau đó lãi suất được thả nổi như quy định trong Hợp đồng tín dụng.
Và ông đã ký kết “Đề nghị phát hành thể tín dụng kiêm hợp đồng ngày 05/01/2022”; Ngân hàng đã phát hành và thay đổi hạn mức cho ông loại thẻ tín dụng theo hình thức có tài sản bảo đảm: thẻ V VISA số tài khoản: V00107104117; với tổng hạn mức thẻ là: 160.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông và Ngân hàng đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 21 ngày 18/06/2021 tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội. Tài sản đảm bảo là Thửa đất số: 1; Tờ bản đồ số: 5; Địa chỉ: phường T, quận H, thành phố H chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 729477; Số vào sổ cấp GCN: CS-HM 26040 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 21/05/2021 cấp cho ông (Vũ Minh K.Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, do việc làm ăn của ông gặp khó khăn nên ông không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng theo đúng thỏa thuận như đã cam kết trong Hợp đồng nên Ngân hàng đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm. Ông có nguyện vọng như sau:
- - Về số nợ gốc và lãi như Ngân hàng tính toán ở trên ông không có ý kiến gì. Ông đề nghị Ngân hàng xem xét miễn toàn bộ lãi, cho ông được trả tiền gốc.
- - Về thời gian trả nợ: Chậm nhất là hết tháng 6/2025 ông sẽ thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 2.000.000.000 đồng (Hai tỉ đồng). Số tiền còn lại ông sẽ trả dần trong thời hạn 5 năm kể từ ngày 06/5/2025.
Ông và Ngân hàng T4 vụ kiện này được giải quyết tại Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm là nơi Ngân hàng có trụ sở chính, ông không có ý kiến thắc mắc gì. Luật sư Nguyễn Anh T1 có ý kiến đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông K được trả nợ dần cho Ngân hàng theo lộ trình như ông K trình bày và xem xét miễn lãi cho bị đơn.
Tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bổ sung phần lãi tính đến ngày 21/5/2025 theo Hợp đồng cho vay số: 21/KHBL1-BDS-K/0234 đã ký ngày 18/06/2021 là 3.722.911.319 đồng, Trong đó:
- + Nợ gốc là: 2.898.000.000 đồng;
- + Nợ lãi trong hạn là: 812.814.448 đồng
- + Nợ lãi quá hạn là: 12.096.871 đồng
- + Dư nợ thẻ tín dụng V VISA số tài khoản: V00107104117. Tạm tính đến hết ngày 21/04/2025, tổng dư nợ thẻ của ông Vũ Minh K là 536.540.640 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 159.981.852 đồng
- Nợ lãi: 76.917.978 đồng
- Phí do chậm trả thẻ: 299.640.810 đồng
Ông Vũ Minh K trình bày: Ông đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông được trả nợ theo phương án như đã trình bày ở trên. Ngoài ra ông còn trình bày tài sản thế chấp có đóng góp của vợ cũ là bà Lê Thị Huyền D. Hiện nay ông đang cho thuê một phần diện tích nhà đất thế chấp để kinh doanh quán phở, tuy nhiên người thuê nhà không đóng góp công sức xây dựng sửa chữa gì trên tài sản thế chấp.
Luật sư Nguyễn Anh T1 có ý kiến: Đề nghị HĐXX tạm đình chỉ giải quyết vụ án để ông K làm đơn gửi Ngân hàng xin miễn giảm lãi suất. Ngoài ra ông đề nghị HĐXX xem xét lại cách tính lãi của Ngân hàng đối với T3 tín dụng đã cấp cho ông K vì cách tính như vậy là quá cao, lãi chồng lãi, ông K không vay vượt hạn mức nhưng phải chịu phí vượt hạn mức là không chính xác. Và cuối cùng, một lần nữa Luật sư đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông K được thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng trên cơ sở Ngân hàng cơ cấu lại khoản nợ và miễn giảm lãi suất cho ông K.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, tiến hành hòa giải, thu thập chứng cứ đúng quy định. Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thành phần HĐXX và thư ký phiên tòa, điều khiển phiên tòa theo đúng trình tự thủ tục.
Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Vũ Minh K phải trả toàn bộ số nợ gốc và lãi, phí cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật. Nếu ông K không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Bị đơn phải chịu án phí và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi tranh luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
1/ Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng khởi kiện về Tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với bị đơn là ông Vũ Minh K. Ngân hàng có trụ sở tại số A phố T, quận H, Hà Nội. Đại diện Ngân hàng và ông K thống nhất giải quyết tranh chấp tại TAND quận Hoàn Kiếm là nơi nguyên đơn có trụ sở. Ông K vay tiền Ngân hàng với mục đích xây sửa nhà ở. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo cấp, theo lãnh thổ và theo loại việc.
2/ Về nội dung vụ án:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng cho vay số: 21/KHBL1-BDS-K/0234 đã ký ngày 18/06/2021 và Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng ngày 05/01/2022 và “Yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 21/4/2022".
Xét Hợp đồng cho vay theo hạn mức, Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng và “Yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 21/4/2022” trên thấy rằng: Về hình thức và nội dung của Hợp đồng cho vay và Thẻ tín dụng là phù hợp với quy định của pháp luật, các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết đúng thẩm quyền, các bên đương sự không có tranh chấp về hình thức và nội dung của hợp đồng nên xác định các Hợp đồng cho vay và Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng; Yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 21/4/2022 trên là hợp pháp và phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm ký kết.
Nội dung Hợp đồng cho vay ký giữa Ngân hàng và ông K nhằm mục đích cho vay và vay tiền để phục vụ nhu cầu đời sống. Tại Điều 2, Điều 3, Điều 5 và Điều 6 của Hợp đồng quy định số tiền vay là 3.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 240 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay lần đầu, mục đích cho vay xây nhà để ở. Lãi suất cho vay theo như Ngân hàng trình bày ở trên là chính xác. Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn: 150% lãi suất vay trong hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn cho đến khi khách hàng trả hết phần dư nợ gốc quá hạn. Kỳ hạn trả nợ gốc: gốc trả 01 tháng/lần trong 240 kỳ, lãi trả vào ngày 26 hàng tháng.
Sau khi ký Hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng đã giải ngân cho ông K đủ số tiền 3.000.000.000 đồng thể hiện tại Giấy nhận nợ đề ngày 23/6/2021.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, ông K liên tục vi phạm cam kết trả nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng đã ký kết, mới trả cho Ngân hàng được 102.000.000 đồng tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn là 275.095.212 đồng và nợ lãi quá hạn là 83.991 đồng nên Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 26/07/2022 là có căn cứ.
Qua các tài liệu chứng cứ do Ngân hàng cung cấp thể hiện Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, làm việc với ông K đôn đốc ông K trả nợ nhưng không đạt kết quả. Nay Ngân hàng khởi kiện ông K yêu cầu ông K thanh toán nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn theo quy định trong Hợp đồng tín dụng là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
Về khoản vay của ông K trong Thẻ tín dụng: Kể từ tháng 04 năm 2022, ông K đã không thanh toán dư nợ thẻ tín dụng trên theo quy định của Ngân hàng, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông K để đề nghị chủ thẻ này phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K thanh toán số tiền đã tiêu trong thẻ và lãi suất, phí của số tiền trên là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
Xét “Bảng kê tính lãi và tổng hợp dư nợ đến hết ngày 21/5/2025 của khách hàng Vũ Minh K; Bảng sao kê tài khoản thẻ tín dụng V đến hết ngày 20/4/2025 của ông Vũ Minh K” do Ngân hàng cung cấp phù hợp với thỏa thuận của các bên đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng và Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng, phương thức tính lãi trong hạn, lãi quá hạn đảm bảo đúng quy định của pháp luật và được hai bên thỏa thuận ký kết trong Hợp đồng tín dụng, Đề nghị phát hành thẻ tín dụng và Giấy nhận nợ. Xét việc bổ sung yêu cầu về khoản tiền lãi tạm tính đến ngày 21/5/2025 của nguyên đơn là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ Khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX chấp nhận việc bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa.
Từ những nhận định trên, HĐXX thấy rằng có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông Vũ Minh K về tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Xác định số nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn mà ông K phải trả cho Ngân hàng tạm tính đến hết ngày 21/05/2025 theo Hợp đồng cho vay số: 21/KHBL1-BDS-K/0234 đã ký ngày 18/06/2021 là 3.722.911.319 đồng, trong đó:
- Nợ gốc là: 2.898.000.000 đồng
- Nợ lãi trong hạn là: 812.814.448 đồng
- Nợ lãi quá hạn là: 12.096.871 đồng
* Dư nợ thẻ tín dụng V VISA số tài khoản: V00107104117. Tạm tính đến hết ngày 20/04/2025, tổng dư nợ thẻ của ông Vũ Minh K là 536.540.640 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 159.981.852 đồng
- Nợ lãi: 76.917.978 đồng
- Phí do chậm trả thẻ: 299.640.810 đồng
Tài sản đảm bảo: Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng và Thẻ tín dụng trên, ông K và Ngân hàng – Chi nhánh Sở Giao dịch đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 21/KHBL1-TC/0234 ngày 18/6/2021. Tại Điều 1, Điều 2 Phần II của Hợp đồng quy định: Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ thuộc bất kỳ loại nào mà khách hàng (đồng thời là bên thế chấp) phải trả cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán theo thỏa thuận giữa khách hàng và Ngân hàng K3 nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại, các loại phí, lệ phí và các khoản theo các Hợp đồng tín dụng dưới đây: Hợp đồng cấp tín dụng số 21/KHBL1-BDS-K/0234 đã ký ngày 18/06/2021 với giá trị khoản vay là 3.000.000.000 đồng và /hoặc tất cả các Hợp đồng cấp tín dụng ký giữa khách hàng và Ngân hàng trong thời hạn 20 năm kể từ ngày ký Hợp đồng. Tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất ở và tài sản khác gắn liền với đất, cụ thể như sau tại Thửa đất số: 1 - Tờ bản đồ số: 5 Địa chỉ: phường T, quận H, thành phố H sản thế chấp trên đã được Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 729477 ngày 21/05/2021 cho ông Vũ Minh K2 đồng thế chấp cũng quy định Ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy Hợp đồng thế chấp tài sản trên là sự thỏa thuận giữa hai bên, được lập thành văn bản, có đủ chữ ký của các bên gồm bên có tài sản (ông K) và bên nhận thế chấp (đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng). Hợp đồng này được ký kết ngày 18/6/2021 tại Văn phòng C1 và đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận H ngày 22/6/2021 đã hội tụ đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nên hợp pháp cả về hình thức lẫn nội dung và phát sinh hiệu lực đối với các bên tham gia ký kết.
Xét yêu cầu của Ngân hàng đòi ông K phải thanh toán số nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng và Thẻ tín dụng tạm tính đến hết ngày 21/05/2025 theo Hợp đồng cho vay số tiền là: 3.722.911.319 đồng và theo Thẻ tín dụng số tiền là 536.540.640 đồng. Nếu ông K không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ: Yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên cũng như thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp, phù hợp với quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 15/5/2021 của Chính phủ về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 và được các bên liên quan đồng ý ký kết nên có căn cứ để HĐXX chấp nhận.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà Lê Thị Huyền D là vợ cũ của ông K có Đơn đề nghị bổ sung người tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ngày 12/07/2024, Tòa án thấy rằng: Bà D đã trình bày nhà đất tại địa chỉ thửa đất số 1, tờ bản đồ số 5 phường T, quận H, Thành phố Hà Nội là tài sản chung của bà D và ông K được bố mẹ ông K tặng để xây nhà làm nơi sinh sống sau khi ông bà kết hôn. Hiện tại, bà D đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội yêu cầu phân chia tài sản sau khi ly hôn. Do vậy, bà D cho rằng việc xét xử vụ án dân sự trên làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà đối với thửa đất nói trên.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà D, Tòa án đã đưa bà D tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngày 02/8/2024 Tòa án đã ra Thông báo yêu cầu bà D cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ sau:
- - Các tài liệu chứng cứ chứng minh căn nhà và thửa đất tại địa chỉ thửa đất số 1, tờ bản đồ số 5 phường T, quận H, Thành phố Hà Nội là tài sản chung của bà và ông Vũ Minh K (Hợp đồng tặng cho tài sản, công sức xây dựng sửa chữa nhà...);
- - Các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà khởi kiện đến Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội yêu cầu chia tài sản chung sau hôn nhân, trong đó có tài sản là nhà đất nói trên.
Tuy nhiên, đến nay bà D vẫn không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án. Tòa án cũng đã tiến hành xác minh tại Sở tài nguyên và môi trường thành phố H và được Văn phòng Đ1 cung cấp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cấp cho ông Vũ Minh K ngày 04/6/2013, cấp đổi ngày 21/5/2021. Hồ sơ thể hiện chỉ có ông K được tặng cho quyền sử dụng đất, không có văn bản nào thể hiện bố mẹ ông K tặng cho bà D là con dâu. Mặt khác, theo Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND phường T, quận H thì tại thời điểm ngày 07/5/2021 tình trạng hôn nhân của ông K là đã đăng ký kết hôn nhưng đã ly hôn theo Quyết định số 289/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30/9/2020 của TAND quận Hoàng Mai. Như vậy, thời điểm ông K vay tiền Ngân hàng thì ông K đang độc thân nên HĐXX xác định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1, tờ bản đồ số 5 phường T, quận H, Thành phố Hà Nội là tài sản riêng của ông K, bà D không liên quan đến tài sản là nhà đất tại địa chỉ thửa đất số 1, tờ bản đồ số 5 phường T, quận H, Thành phố Hà Nội như bà D trình bày, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà D cũng không cung cấp được bất kỳ tài liệu chứng cứ nào nên Tòa án không tiếp tục đưa bà D vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.
Việc ông K trình bày ông đang cho thuê một phần diện tích nhà đất thế chấp, HĐXX thấy rằng: Khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì nhà đất thế chấp do ông K trực tiếp quản lý sử dụng, không cho thuê. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông K không trình bày và không xuất trình chứng cứ về việc cho thuê nhà và tại phiên tòa ông K cũng khẳng định người thuê nhà không xây dựng, sửa chữa đóng góp gì vào tài sản đảm bảo. Mặt khác ông K cho thuê nhà nhưng không thông báo cho bên nhận thế chấp, không được sự đồng ý của bên nhận thế chấp là vi phạm Hợp đồng thế chấp mà ông đã ký với Ngân hàng.
Việc ông K đề nghị Ngân hàng xem xét miễn toàn bộ lãi, cho ông được trả tiền gốc và chậm nhất là hết tháng 6/2025 ông sẽ thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 2.000.000.000 đồng, số tiền còn lại ông sẽ trả dần trong thời hạn 5 năm kể từ ngày 06/5/2025: Đề nghị này của ông K không được đại diện Ngân hàng chấp nhận nên HĐXX không có cơ sở để xem xét.
Xét đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án của Luật sư Nguyễn Anh T1, HĐXX thấy rằng: Việc ông K làm đơn gửi Ngân hàng xin miễn giảm lãi không phải là căn cứ tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Mặt khác, ông K đã nhiều lần xin miễn lãi và xin trả dần số nợ gốc nhưng không được sự chấp thuận của Ngân hàng nên HĐXX không có cơ sở để xem xét yêu cầu của Luật sư.
Ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b Khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 244, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 116, Điều 117, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 385, Điều 386, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
1, Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N đối với bị đơn là ông Vũ Minh K về tranh chấp Hợp đồng tín dụng và tranh chấp Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng.
2, Xác định Hợp đồng cho vay số 21/KHBL1-BDS-K/0234 ngày 18/06/2021; Giấy đề nghị phát hành Thẻ kiêm hợp đồng ngày 05/01/2022 và Yêu cầu thay đổi hạn mức thẻ tín dụng ngày 21/4/2022 ký giữa Ngân hàng TMCP N và ông Vũ Minh K là hợp pháp và phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết.
3, Buộc ông Vũ Minh K phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 21 tháng 05 năm 2025 theo Hợp đồng cho vay số: 21/KHBL1-BDS-K/0234 đã ký ngày 18/06/2021 là 3.722.911.319 đồng, trong đó:
- Nợ gốc là: 2.898.000.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn là: 812.814.448 đồng
- Nợ lãi quá hạn là: 12.096.871 đồng
* Và Dư nợ Thẻ tín dụng V VISA số tài khoản: V00107104117 tạm tính đến hết ngày 20/04/2025, tổng dư nợ thẻ của ông Vũ Minh K là 536.540.640 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 159.981.852 đồng
- Nợ lãi: 76.917.978 đồng
- Phí do chậm trả thẻ: 299.640.810 đồng (bao gồm phí vượt hạn mức, phí chậm trả và phí thường niên)
4, Kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật, ông K không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án Dân sự phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 1, tờ bản đồ số 5 phường T, quận H, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 729477 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 21/05/2021 cho ông Vũ Minh K
5, Kể từ ngày 22/5/2025, ông Vũ Minh K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng; Kể từ ngày 21/4/2025 ông Vũ Minh K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong Đề nghị phát hành Thẻ kiêm hợp đồng được điều chỉnh theo quyết định của Ngân hàng TMCP N theo từng thời kỳ.
6, Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự là 05 năm được quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
7, Về án phí: Ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.259.400 đồng. Ngân hàng được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 48.860.000 đồng theo Biên lai số 0006158 ngày 10/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.
8, Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt đại diện nguyên đơn, bị đơn và Luật sư Nguyễn Anh T1, vắng mặt Luật sư Vũ Văn T2. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Nguyên |
Bản án số 25/2025/DS -ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 25/2025/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Vũ Minh Khoa
