TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN Số: 25/2025/DS-ST Ngày 18 - 6 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thanh Đức;
- Bà Đinh Thị Mỹ Hằng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Vinh – Thư ký TAND thị xã La Gi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2024/TLST-DS, ngày 01 tháng 4 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXX-ST, ngày 24 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-DS, ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.G.T.T, địa chỉ: Số X đường N.K.K.N, phường Y, Quận Z, Thành phố H.C.M;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Toàn D, sinh năm: 1978, địa chỉ: Ngân hàng TMCP S.G.T.T – Chi nhánh H.N.T, khu phố N.T, thị trấn T.N, huyện H.T.N, tỉnh B.T.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Tuyết H, sinh năm: 1977, nơi cư trú: Khu phố K, phường T.A, thị xã L.G, tỉnh B.T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S.G.T.T, và người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Ngân hàng TMCP S.G.T.T (Sau đây gọi là Ngân hàng) thực hiện hoạt động cho vay tín dụng theo yêu cầu phát hành thẻ tín dụng đối với bà Huỳnh Thị Tuyết H lập ngày 16/9/2022, với hạn mức tín dụng là 50 triệu đồng, lãi suất 33,2%/tháng. Quá trình sử dụng thẻ, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi, tính đến ngày 05/3/2025, bà H còn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 71.544.405 đồng, trong đó nợ gốc là 44.303.414 đồng, nợ lãi là 27.240.991 đồng.
Mặc dù đã nhiều lần làm việc trực tiếp hoặc thông qua thông báo của Ngân hàng, nhưng bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình, chính vì vậy, Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà H phải thanh toán số tiền là 71.544.405 đồng, trong đó nợ gốc là 44.303.414 đồng, nợ lãi tính đến ngày 05/3/2025 là 27.240.991 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày 05/3/2025, bà H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo thỏa thuận đã ký kết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý, tống đạt các văn bản tố tụng, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nhận thấy đủ cơ sở để xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Ngân hàng TMCP S.G.T.T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Huỳnh Thị Tuyết H phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín tụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Huỳnh Thị Tuyết H có nơi cư trú tại khu phố 4, phường Tân An, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân thị xã La Gi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bà Huỳnh Thị Tuyết H đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vẫn vẫn mặt không rõ lý do, đồng thời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Võ Toàn D có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 điều 227 điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả đương sự.
- Ngày 16/9/2022,Ngân hàng TMCP S.G.T.T phê duyệt cấp tín dụng cho bà Huỳnh Thị Tuyết H với hạn mức là 50 triệu đồng, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do bà H ký yêu cầu. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng TMCP S.G.T.T giao nộp, Hội đồng xét xử nhận thấy việc cấp thẻ tín dụng và dịch vụ tín dụng theo yêu cầu của bà H do Ngân hàng TMCP S.G.T.T thực hiện, là phù hợp với quy định của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, và các bản bản sửa đổi bổ sung (Văn bản có hiệu lực tại thời điểm cấp thẻ tín dụng) và Thông tư số 18/2024/TT-NHNN, ngày 28/6/2024, của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, quy định về hoạt động thẻ ngân hàng có hiệu lực từ ngày 01/7/2024.
- Việc xác định dư nợ thẻ tín dụng được Ngân hàng TMCP S.G.T.T thực hiện phù hợp với bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ cá nhân, phù hợp với biển phí trong từng thời kỳ được Ngân hàng công bố.
- Bà Huỳnh Thị Tuyết H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên họp, phiên tòa xét xử vụ án nhưng không cung cấp ý kiến, không nộp tài liệu, chứng cứ, không tham gia các phiên họp, phiên tòa là không thực hiện nghĩa vụ và từ bỏ quyền của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 91 (Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó), khoản 2 Điều 92 (Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh) của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và được chấp nhận.
- Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bà Huỳnh Thị Tuyết H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 91, Điều 92, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, và các bản bản sửa đổi bổ sung;
- Thông tư số 18/2024/TT-NHNN, ngày 28/6/2024, của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, quy định về hoạt động thẻ ngân hàng;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.G.T.T.
- Buộc bà Huỳnh Thị Tuyết H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S.G.T.T số tiền là 77.410.989 đồng, trong đó nợ gốc là 44.303.414 đồng, nợ lãi trong hạn là 11.035.858 đồng, nợ lãi quá hạn là 22.071.717 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/6/2025) cho đến khi thi hành án xong, bà H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về án phí và xử lý tạm ứng án phí:
- + Ngân hàng TMCP S.G.T.T được nhận lại 1.435.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận theo Biên lai thu số 0011450, ngày 28/3/2024.
- + Bà Huỳnh Thị Tuyết H phải chịu 3.870.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Đình Phú |
Bản án số 25/2025/DS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Số bản án: 25/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà H phải thanh toán số tiền là 71.544.405 đồng, trong đó nợ gốc là 44.303.414 đồng, nợ lãi tính đến ngày 05/3/2025 là 27.240.991 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày 05/3/2025, bà H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo thỏa thuận đã ký kết
