Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 25/2025/DS-ST

Ngày: 18/3/2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền

Ông Phùng Văn Tầu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên

Trong ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2025/TLST- DS ngày 17/5/2024 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QÐST - DS ngày 11/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐHPT-DS ngày 26/02/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ; Địa chỉ: B, ngách D ngõ G Cầu G, phường Y, quận C, TP .; Đại diện theo pháp luật: Lương Huyền C – Chức vụ: Giám Đốc
  • Đại diện theo ủy quyền: Ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H (H1); Trụ sở chính: B N, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T – Tổng Giám đốc; Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn H. Có mặt
  • - Bị đơn: Chị Vũ Thị P, sinh năm 1984 và anh Phùng Khắc T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ E, N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Phạm Thị C1, sinh năm 1960; Vắng mặt
    2. Anh Phùng Khắc C2, sinh năm 1990; Vắng mặt
    3. Cháu Phùng Khắc P1, sinh năm 2006; Cháu Phùng Khắc P2, sinh năm 2016; Người đại diện hợp pháp của cháu P1, P2: chị Vũ Thị P, anh Phùng Khắc T1 (bố mẹ đẻ). Vắng mặt
  1. Anh Phùng Khắc L, sinh năm 1986 (chết năm 2024).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của anh Phùng Khắc L: Bà Phạm Thị C1, sinh năm 1960 (mẹ đẻ anh L). Vắng mặt

Đều trú tại: Tổ E, N, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh H2 đã ký kết với chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 theo Hợp đồng tín dụng số 2864/22MB/HĐTD ngày 26/01/2022 và Khế ước nhận nợ số 2864/22MB/HĐTD/KUNN01 ngày 28/01/2022; nội dung chi tiết sau: bà P, ông T1 vay Ngân hàng số Tiền giải ngân: 600.000.000 (Sáu trăm triệu đồng); Thời hạn vay 156 tháng, từ ngày 29/01/2022 đến ngày 28/01/2035. Mục đích sử dụng vốn: Vay vốn sửa chữa nhà. Lãi suất cho vay trong hạn: 10,5%/năm; Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần. Lãi suất vay quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.

Để bảo đảm cho các khoản vay nêu trên hộ gia đình ông/bà: Phạm Thị C1, Phùng Khắc T1, Phùng Khắc L, Phùng Khắc C2 đã dùng tài sản của mình để thế chấp cho Ngân hàng với tài sản thế chấp bao gồm: “Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 112 m². Địa chỉ: N, xã Đ, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là: N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số T 554277, số vào sổ cấp GCN: 167 QSDĐ/... do UBND huyện T cấp ngày 26/05/2002”. Thực hiện theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số 2864/22MB/HĐBĐ ngày 26/01/2022 đã được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H - Chi nhánh H2 với hộ gia đình ông/bà: Phạm Thị C1, Phùng Khắc T1, Phùng Khắc L, Phùng Khắc C2.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 mới thanh toán được tổng số tiền tạm tính đến ngày 02/04/2024 là: 154.227.177 đồng, trong đó: Thanh toán nợ gốc 48.006.806 đồng; nợ lãi 106.220.371 đồng và kể từ ngày 02/09/2023 đến nay chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho H1. Ngân hàng đã gửi thông báo, công văn yêu cầu chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 cũng như bên thế chấp trả nơ và yêu cầu bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng xư lý theo đúng quy định nhưng chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 và bên thế chấp đêu không thực hiện theo yêu cầu của ngân hàng, có biểu hiện kéo dài thơi gian và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Ngày 29/12/2023, H1 đã bán toàn bộ khoản nợ của chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 cho Công ty TNHH Đ theo Hợp đồng mua, bán nợ số: 0638.12.01/HĐMBN. Đồng thời, H1 nhận ủy quyền từ Công ty TNHH Đ tiếp tục thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của chủ nợ đối với khoản nợ của chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 theo Hợp đồng ủy quyền số: 0638.12.01/HĐUQ ngày 29 tháng 12 năm 2023.

Ngày 02/4/2024, Công ty TNHH Đ khởi kiện chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 ra trước Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, đề nghị Tòa giải quyết các vấn đề sau:

  • - Buộc chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 phải thanh toán ngay toàn bộ khoản nợ cho Công ty TNHH Đ tạm tính đến ngày 02/04/2024 với tổng số tiền là: 603.442.316 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 551.993.194 đồng, N lãi trong hạn là 48.047.474 đồng, N lãi quá hạn là: 3.401.648 đồng;
  • - Buộc bà Vũ Thị P và ông Phùng Khắc T1 tiếp tục phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh kể từ ngày 03/04/2024 theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 2864/22MB/HĐTD ngày 26/01/2022 và Khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ;
  • - Kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật mà chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh cho Công ty TNHH Đ thì Công ty TNHH Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp: “Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 112 m². Địa chỉ: N, xã Đ, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là: N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số T 554277, số vào sổ cấp GCN: 167 QSDĐ/... do UBND huyện T cấp ngày 26/05/2002”. Thực hiện theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số 2864/22MB/HĐBĐ ngày 26/01/2022 đã được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H - Chi nhánh H2 với hộ gia đình ông/bà: Phạm Thị C1, Phùng Khắc T1, Phùng Khắc L, Phùng Khắc C2.
  • - Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 đối với Công ty TNHH Đ, sau khi trừ đi các chi phí phát sinh trong quá trình khởi kiện và xử lý tài sản. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty TNHH Đ bằng nguồn thu và các tài sản hợp pháp khác.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, Quyết định thẩm định tại chỗ đối với tài sản bảo đảm, Thông báo về phiên hòa giải và công khai chứng cứ..., cũng như triệu tập bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến Tòa án để giải quyết vụ kiện. Tuy nhiên bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.

Tòa án lập biên bản lấy lời khai của anh Phùng Khắc T1, chị Vũ Thị P, bà Phạm Thị C1 tại nhà đương sự (BL129, 130), các đương sự đều thừa nhận anh T1, chị P có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Đ vay số tiền 600.000.000 đồng và thế chấp tài sản bảo đảm là Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 112 m². Địa chỉ: N, xã Đ, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là: N, phường Đ, quận

H, thành phố Hà Nội). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số T 554277, cấp cho hộ bà Phạm Thị C1. Sau đó do kinh tế khó khăn nên vợ chồng anh T1, chị P trả nợ cho ngân hàng được 2 năm thì không trả được nữa. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ, bà C1, anh T1, chị P đều có nguyện vọng Ngân hàng tạo điều kiện cho anh chị trả nợ dần.

Ngày 17/5/2024, Nguyên đơn có Đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp.

Ngày 19/7/2024, Tòa án tiến hành thẩm định tài sản đã tiến hành thẩm định tại chỗ xác định: thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 112 m². Địa chỉ: N, xã Đ, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là: N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số T 554277, cấp cho hộ bà Phạm Thị C1 ngày 02/5/2002. Hiện trạng thửa đất phù hợp với Giấy chứng nhận. Trên đất có 01 ngôi nhà xây 3 tầng. Khi lập biên bản thẩm định, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đã được báo gọi hợp lệ nhưng không có mặt tại tài sản thế chấp. Việc thẩm định được tiến hành bên ngoài, với các thành phần đúng quy định.

- Xác minh nhân khẩu hộ bà Phạm Thị C1 tại Công an phường Đ, quận H:

  • + Tại thời điểm tháng 5/2002 (thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), có các nhân khẩu: Ông Phùng Khắc D (SN 1957, chết năm 2001); bà Phạm Thị C1, sinh năm 1960, anh Phùng Khắc T1, SN 1984, anh Phùng Khắc L, SN 1986, anh Phùng Khắc C2, SN 1990. (Chị Phùng Thị T2, SN 1980 (con gái bà C1) chuyển khẩu đến P, T, H ngày 23/3/2000).
  • + Tại thời điểm hiện tại (ngày 22/7/2024) các nhân khẩu sinh, sống trên đất thế chấp gồm: hộ bà Phạm Thị C1, SN 1960 (chủ hộ); anh Phùng Khắc C2, SN 1990; anh Phùng Khắc L (SN 1986, chết ngày 18/7/2024); hộ anh Phùng Khắc L, SN 1984 (chủ hộ); chị Vũ Thị P (vợ); cháu Phùng Khắc P1, SN 2006, Phùng Khắc P2, SN 2016 (con); Bà Phạm Thị C1 có một con gái là Phạm Thị T3, SN 1980 chuyển khẩu năm 2000 đến Tổ B, T, P, H, Hà Nội.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
  • - Bị đơn, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần 2, không có lý do.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng:

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật; đúng tư cách người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 26, 35 và 39; khoản 2, 3, 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng Dân sự; quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện hòa giải, xác minh, thẩm định, thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ. Về thời hạn xét xử: Vụ án thụ lý ngày 15/5/2024, đến tháng 02/2025 mới đưa ra xét xử là quá thời hạn theo quy định. Tại phiên tòa, HĐXX, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quyền hạn và nhiệm vụ của mình. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự: tham gia

hòa giải, lấy lời khai, và cung cấp chứng cứ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người liên quan (đã chết) xin vắng mặt tại các buổi hòa giải và tố tụng, không có ý kiến gì khác.

Về nội dung:

Xác định hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ, Hợp đồng thế chấp, Phụ lục hợp đồng thế chấp tài sản xác lập giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên các bên phải có trách nhiệm thi hành theo đúng hợp đồng đã ký kết. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 26, Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 280, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ đối với chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1.

Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày 17/3/2025 là: 689.542.473 đồng; trong đó: Nợ gốc 551.993.194 đồng; Nợ lãi trong hạn: 98.755.003 đồng; Nợ lãi quá hạn: 22.429.443 đồng, lãi chậm trả: 16.364.833 đồng theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Kể từ ngày 18/3/2025, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết khoản vay. Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh, kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ theo quy định.

Án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán; Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện, không phải chịu án phí, được hoàn lại án phí đã tạm ứng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Về tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng thuộc quan hệ pháp luật Dân sự; bị đơn có địa chỉ cư trú cuối cùng tại N, phường Đ, quận H, Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quyền khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng N1 cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần; và được Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp Công ty Cổ phần, mã số doanh nghiệp: 0300608092, đăng ký lần đầu ngày 11/8/1992; có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, ngành nghề kinh doanh có hoạt động tín dụng gồm có: hoạt động vay vốn, hoạt động cấp tín dụng...

Theo Hợp đồng mua bán nợ giữa Công ty TNHH Đ và Ngân hàng TMCP P thì Công ty TNHH Đ đã mua toàn bộ khoản nợ của chị Vũ Thị P và anh Phùng

Khắc T1 tại Ngân hàng. Công ty TNHH Đ được cấp phép thành lập và hoạt động ngành nghề kinh doanh dịch vụ mua bán nợ... được Sở Kế hoạch Đầu tư Thành phố H cấp Giấy CN Đăng ký doanh nghiệp mã số 0110514110 ngày 19/10/2023 có tư cách pháp nhân. Do đó, Công ty Đ có quyền khởi kiện đối với chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 tại Tòa án để thu hồi khoản nợ.

Đối với việc vắng mặt của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Xét bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không có lý do cũng không có văn bản có ý kiến gì khác. Do đó, việc vắng mặt của các đương sự trên tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng tiến hành xét xử theo quy định.

[2]. Về nội dung:

2.1. Xét yêu cầu của Công ty TNHH Đ: Buộc anh Phùng Khắc T1 và chị Vũ Thị P phải trả cho H1 toàn bộ số tiền gốc, tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng.

Ngày 26/01/2022, chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 ký Hợp đồng tín dụng số 2864/22MB/HĐTD với Ngân hàng Thương mại Cổ phần P -Chi nhánh H2 để vay số tiền 600.000.000 đồng. Chị P và anh T1 đã được giải ngân đủ số tiền 600.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số 2864/22MB/HĐTD/KUNN01 ngày 28/01/2022.

Quá trình thực hiện theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 thực hiện được một phần nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Cụ thể, tạm tính đến ngày 02/04/2024 là: 154.227.177 đồng, trong đó: Thanh toán nợ gốc 48.006.806 đồng; nợ lãi 106.220.371 đồng và kể từ ngày 02/09/2023 đến nay bà Vũ Thị P và ông Phùng Khắc T1 không thanh toán nợ, chuyển nợ quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu bị đơn thanh toán các khoản nợ tính đến ngày 17/3/2025 là: 689.542.473 đồng; trong đó: Nợ gốc 551.993.194 đồng; Nợ lãi trong hạn: 98.755.003 đồng; Nợ lãi quá hạn: 22.429.443 đồng, lãi chậm trả: 16.364.833 đồng.

Xét, việc ký kết hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ giữa chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 vay vốn tại Ngân hàng TMCP P (H1) là tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý, có hiệu lực thi hành, buộc các bên phải thực hiện. Chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, chuyển nợ quá hạn. Ngân hàng đã bán toàn bộ khoản nợ trên cho Công ty TNHH Đ theo quy định. Nay Công ty TNHH Đ yêu cầu chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ toàn bộ khoản tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn như thỏa thuận là có căn cứ, được chấp nhận;

Đối chiếu các thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng, bảng kê tính lãi do Ngân hàng cung cấp, thấy mức lãi suất H1 áp dụng và yêu cầu bị đơn phải thanh toán là phù hợp với các thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ giữa các bên, phù hợp với quy định của Thống đốc ngân hàng Nhà nước cũng như các quy định tại các Điều 280, 463, 465, 466 và 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân

hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”; và phù hợp các hướng dẫn tại Mục 4, Điều 13, Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1: và Hướng dẫn tại điểm b mục 2, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, có cơ sở để chấp nhận các khoản lãi đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên giữa Ngân hàng và bị đơn.

Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ, buộc Chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 phải thanh toán cho Công ty Đ tổng số tiền tính đến ngày tính đến ngày 17/3/2025 là: 689.542.473 đồng; trong đó: Nợ gốc 551.993.194 đồng; Nợ lãi trong hạn: 98.755.003 đồng; Nợ lãi quá hạn: 22.429.443 đồng, lãi chậm trả: 16.364.833 đồng.

2.2. Về yêu cầu của Ngân hàng đối với việc xử lý tài sản thế chấp:

HĐXX xét: bà Phạm Thị C1, anh Phùng Khắc T1, anh Phùng Khắc C2, anh Phùng Khắc L (đã chết tháng 7/2024) đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác là Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là: “Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 112 m2. Địa chỉ: N, xã Đ, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là: N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số T 554277, số vào sổ cấp GCN: 167 QSDĐ/... do UBND huyện T cấp ngày 26/05/2002”. Thực hiện theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số 2864/22MB/HĐBĐ ngày 26/01/2022 đã được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H - Chi nhánh H2 với hộ gia đình ông/bà: Phạm Thị C1, Phùng Khắc T1, Phùng Khắc L, Phùng Khắc C2.

Tài sản được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng số 2864/22MB/HĐBĐ ngày 26/01/2022 tại Văn phòng C3 ngày 26/01/2022, số công chứng: 0723.2022 quyển số 15. Việc thế chấp quyền sử dụng đất đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 13/11/2013 tại Văn phòng Đ1, chi nhánh H3 theo quy định của pháp luật.

Việc ký kết hợp đồng thế chấp các bên hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ các quy định của pháp luật có giá trị pháp luật.

Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Đ về việc xử lý tài sản thế chấp của Bên thế chấp khi Chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 không thanh toán khoản tiền nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh, kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định.

[3]. Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết 326 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí, xét:

Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí, được hoàn lại tạm ứng án phí đã nộp;

Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị Định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo;

Căn cứ Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo;

Căn cứ nghị quyết 326/2016 của UBTV Quốc Hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ đối với chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1.

Buộc chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ tổng số tiền tính đến ngày 17/3/2025 là: 689.542.473 đồng; trong đó: Nợ gốc 551.993.194 đồng; Nợ lãi trong hạn: 98.755.003 đồng; Nợ lãi quá hạn: 22.429.443 đồng, lãi chậm trả: 16.364.833 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2864/22MB/HĐTD ngày 26/01/2022 và Khế ước nhận nợ số 2864/22MB/HĐTD/KUNN01 ngày 28/01/2022.

Kể từ ngày 18/3/2025, chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất đối với số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng tương ứng với thời gian và số tiền chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh cho Công ty TNHH Đ thì Công ty TNHH Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xác minh, kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: “Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 156, tờ bản đồ số 4, diện tích 112 m2. Địa chỉ: N, xã Đ, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là: N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số T 554277, số vào sổ cấp GCN: 167 QSDĐ/... do UBND huyện T cấp ngày 26/05/2002 cấp cho hộ bà Phạm Thị C1”. Thực hiện theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số 2864/22MB/HĐBĐ ngày 26/01/2022 đã được ký kết

giữa Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H -Chi nhánh H2 với hộ gia đình ông/bà: Phạm Thị C1, Phùng Khắc T1, Phùng Khắc L, Phùng Khắc C2.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/ xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 đối với Công ty TNHH Đ.

Trường hợp chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 thanh toán đủ toàn bộ khoản tiền nợ nêu trên thì Công ty TNHH Đ có trách nhiệm trả lại GCNQSD đất đã thế chấp và làm thủ tục giải chấp ngay theo quy định của pháp luật.

Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp, số tiền phát mại không đủ thanh toán thì chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn nợ cho Công ty TNHH Đ cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án buộc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Bị đơn, chị Vũ Thị P và anh Phùng Khắc T1 phải nộp 31.581.699 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, Công ty TNHH Đ không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm, được hoàn lại số tiền 14.500.000 đồng (Mười bốn triệu, năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0043777 ngày 15/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

5. Án xử công khai sơ thẩm; đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận

  • - TAND TP Hà Nội.
  • - VKS ND TP Hà Nội;
  • - VKS ND quận Hà Đông.
  • - Chi cục THA DS quận Hà Đông.
  • - Đương sự.
  • -Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/DS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 25/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger