Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/DS-ST

Ngày: 06/3/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Vĩnh Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. bà Nguyễn Thị Ngọc Đào
  2. ông Võ Thành Nhân

- Thư ký phiên toà: bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: ông Nguyễn Trọng Lễ – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 550/2024/TLST - DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXX - DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Phan Thị H, sinh năm 1953

Địa chỉ: A ấp C, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: ông Nguyễn Hoàng Ngọc K, sinh năm 1969

Địa chỉ: A ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. anh Phan Thanh T, sinh năm 1974
  2. Địa chỉ: 836/34 Hương Lộ 2, xã Bình Trị Đông, quận Bình Tân, TP. HCM

  3. chị Phan Thị Thanh T1, sinh năm 1976
  4. Địa chỉ: 9 L, phường A, quận B, TP .

  5. chị Phan Thị Thanh T2, sinh năm 1979
  6. chị Phan Thanh P, sinh năm 1982
  7. chị Phan Thanh Thủy T3, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: A ấp C, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Bà H có mặt, các đương sự còn lại vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 11 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị H trình bày:

Tháng 01/2009, bà và ông Long Nhật T4 có vay tiền của ông Nguyễn Hoàng Ngọc K số tiền 50.000.000 đồng để xây nhà. Hai bên không làm hợp đồng vay tiền mà lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đảm bảo khoản vay cho ông K. Nội dung hợp đồng bà và ông T4 chuyển nhượng cho ông K phần đất tại thửa 156 tờ bản đồ số 17 diện tích 59,45 m² đất tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố M. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Phòng C tỉnh Tiền Giang. Sau đó bà và ông T4 đã trả tiền vay cho ông K và ông K đã trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà nhưng hai bên không có ra Phòng công chứng để hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Năm 2013 thì ông T4 chết. Nay bà muốn tặng cho đất qua cho con nhưng không công chứng hợp đồng được vì vẫn còn tồn tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ông T4 với ông K.

Nay bà yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/01/2009 giữa bà và ông T4 với ông K đã được Phòng C tỉnh Tiền Giang công chứng.

- Tại biên bản ghi lời khai ngày 04 tháng 12 năm 2024, và quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hoàng Ngọc K trình bày:

Vào năm 2009, ông có cho bà Phan Thị H và ông Long Nhật T4 vay số tiền là 50.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng. Khi vay thì ông có yêu cầu bà Phan Thị H và ông Long Nhật T4 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tôi để đảm bảo. Ngày 02/01/2009, ông với bà H và ông T4 có đến Phòng C tỉnh Tiền Giang để ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất tại thửa 156 tờ bản đồ số 17 diện tích 59,45 m2 đất trồng cây lâu năm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 919672 số vào sổ cấp GCN: H03738 do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 29/11/2007 cho bà Phan Thị H; đất tọa lạc ấp C, xã Đ, thành phố M. Hợp đồng đã được Phòng C tỉnh Tiền Giang công chứng. Đây là hợp đồng giả tạo để đảm bảo việc vay tiền của bà H và ông T4 chứ các bên không có ý chí chuyển nhượng đất. Đất vẫn do bà H và ông T4 quản lý từ trước đến nay.

Sau đó bà H và ông T4 đã trả cho ông số tiền vay 50.000.000 đồng, tuy nhiên các bên không có ra Phòng Công chứng để hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/01/2009 mà để cho đến nay. Nay ông T4 đã chết nên không thể ra Phòng Công chứng để hủy bỏ được.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, ông thống nhất đồng ý hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/01/2009 được Phòng C tỉnh Tiền Giang công chứng.

- Tại bản tự khai ngày 05 tháng 12 năm 2024, và quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Thanh T, chị Phan Thị Thanh T1, chị Phan Thị Thanh T2, anh Phan Thanh P, chị Phan Thanh Thủy T3 trình bày:

Các anh, chị là con của ông T4 và bà H. Vào năm 2009, ông K có cho bà Phan Thị H và ông Long Nhật T4 vay số tiền là 50.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng. Khi vay thì ông K có yêu cầu bà Phan Thị H và ông Long Nhật T4 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tôi để đảm bảo. Ngày 02/01/2009, ông K với bà H và ông T4 có đến Phòng C tỉnh Tiền Giang để ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất tại thửa 156 tờ bản đồ số 17 diện tích 59,45 m2 đất trồng cây lâu năm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 919672 số vào sổ cấp GCN: H03738 do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 29/11/2007 cho bà Phan Thị H; đất tọa lạc ấp C, xã Đ, thành phố M. Hợp đồng đã được Phòng C tỉnh Tiền Giang công chứng. Đây là hợp đồng giả tạo để đảm bảo việc vay tiền của bà H và ông T4 chứ các bên không có ý chí chuyển nhượng đất. Đất vẫn do bà H và ông T4 quản lý từ trước đến nay.

Sau đó bà H và ông T4 đã trả cho ông K số tiền vay 50.000.000 đồng, tuy nhiên các bên không có ra Phòng Công chứng để hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/01/2009 mà để cho đến nay. Nay ông T4 đã chết nên không thể ra Phòng Công chứng để hủy bỏ được.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, các anh, chị thống nhất đồng ý hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/01/2009 được Phòng C tỉnh Tiền Giang công chứng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: ông Nguyễn Hoàng Ngọc K, anh Phan Thanh T, chị Phan Thị Thanh T1, chị Phan Thị Thanh T2, anh Phan Thanh P, chị Phan Thanh Thủy T3 có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: bà Phân Thị H1 yêu cầu bà hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ông T4 với ông K đã được Phòng C tỉnh Tiền Giang công chứng nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bất động sản tại xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[3] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/01/2009 được các bên giao kết là giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản, mục đích giả tạo là để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ mà ông K cho bà H1 và ông T4 vay tiền. Giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là không đúng với thực tế và thấp hơn rất nhiều so với giá trị của phần đất. Ngoài ra, trên phần đất còn có một căn nhà là nơi sinh sống của hộ gia đình bà Phan Thị H, các bên không có thỏa thuận về chuyển giao căn nhà này mà thực tế thì ông K cũng không nhận quản lý, sử dụng phần đất và căn nhà trên đất từ thời điểm ký kết hợp đồng cho đến nay.

[4] Như vậy, có cơ sở xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/01/2009 là hợp đồng giả tạo che giấu hợp đồng vay tài sản, mục đích giả tạo là để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ khoản tiền mà bà H và ông T4 vay của ông K. Mặc dù bà H yêu cầu “hủy bỏ hợp đồng” nhưng nội dung yêu cầu của bà H xác định đó là một văn bản không có hiệu lực nên việc tuyên bố vô hiệu hợp đồng là phù hợp với yêu cầu khởi kiện của đương sự. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của bà H, tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/01/2009 được Phòng C tỉnh Tiền Giang công chứng số 06, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/01/2009 vô hiệu do giả tạo, theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005.

[5] Về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu do giả tạo là của bà H, ông T4, ông K nên Công chứng viên không chịu trách nhiệm về việc công chứng hợp đồng này cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng của tổ chức hành nghề công chứng.

[7] Về chi phí tố tụng: chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng. Bà H tự nguyện chịu và đã nộp tạm ứng số tiền 2.000.000 đồng nên đã nộp xong.

[8] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà H được chấp nhận nên ông K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02 tháng 01 năm 2009 giữa bà Phan Thị H và ông Long Nhật T4 với ông Nguyễn Hoàng Ngọc K đối với phần đất thửa 156, tờ bản đồ số 17, diện tích 59,45 m² đất trồng cây lâu năm, tại ấp C, xã Đ, TP ., tỉnh Tiền Giang được Phòng C1 tỉnh Tiền Giang công chứng theo số công chứng 06, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/01/2009 là hợp đồng vô hiệu.
  2. Về án phí: ông Nguyễn Hoàng Ngọc K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
  3. Về chi phí tố tụng: bà Phan Thị H tự nguyện chịu tiền chi phí tố tụng là 2.000.000 đồng và đã nộp xong.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Chi Cục THADS;
  • - Lưu.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Vĩnh Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/DS-ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự

  • Số bản án: 25/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger