TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/DS-PT Ngày 25/3/2025 V/v tranh chấp đất đai |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Hữu Trường |
Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Kiên Bà Bùi Thị Thu Hằng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Vũ Hoàng Trường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà:
Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17/01/2025 và ngày 25/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 93/2024/TLPT-DS ngày 05/12/2024 về việc “Tranh chấp đất đai”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 97/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn Đ; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Vũ Thị H; trú tại: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 07/8/2024); có mặt;
- Bị đơn: Ông Đỗ Hữu N (Đỗ Văn N1); nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Đỗ Thị M; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
+ Ông Đỗ Văn M1; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
+ Bà Đỗ Thị H1; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
+ Ông Đỗ Hữu C; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
+ Ông Đỗ Hữu C1; nơi cư trú: Khu A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
- Người kháng cáo: Nguyên đơn là ông Đỗ Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đỗ Văn Đ, người đại diện theo uỷ quyền của ông Đỗ Văn Đ và ông Đỗ Văn Đ thống nhất trình bày:
Gia đình ông Đỗ Văn Đ hiện đang sinh sống trên diện tích đất 494 m² của bố mẹ để lại thuộc thửa đất số 388, tờ bản đồ số 4; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; ngày 20/11/1997 được Ủy ban nhân dân huyện V (gọi tắt là UBND huyện V) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K482409 mang tên ông Đỗ Văn Đ1, ngày 29/9/2023 đã được đính chính tại T số 4 “Để thừa kế cho ông Đỗ Văn Đ”. Quá trình sử dụng đất, gia đình ông Đ sử dụng ổn định, không xảy ra tranh chấp đến khi gia đình ông Đ làm nhà và khảo sát lại đất thì phát hiện gia đình ông Đỗ Hữu N (hộ giáp danh về phía Tây) xây lấn sang phần đất của gia đình ông Đ với tổng diện tích là 25m², cụ thể: Chiều dài cạnh phía Tây là 32,7m; cạnh phía Bắc chiều ngang bao gồm: 0,26m; 0,8m; 0,7m; 1,14m; 1m; 0,7 m; 0,3m. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ông Đ đề nghị Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo buộc ông Đỗ Hữu N phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm nêu trên và tự tháo rỡ công trình xây lấn sang diện tích đất nhà ông Đ.
Quá trình tố tụng - Bị đơn là ông Đỗ Hữu N trình bày: Gia đình ông có diện tích 301m² đất tại thửa đất số 389, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng, giáp danh với thửa đất số 388, tờ bản đồ số 04 của gia đình ông Đỗ Văn Đ. Nguồn gốc là của các cụ để lại cho vợ chồng ông. Vợ ông là bà Nguyễn Thị Ư (đã chết năm 2023). Vợ chồng ông có 05 người con là Đỗ Thị M, Đỗ Văn M1, Đỗ Thị H1, Đỗ Hữu C, Đỗ Hữu C1, ngoài ra vợ chồng ông không có ai là con nuôi, con riêng, con nhận nào khác, bố mẹ của bà Ư đều chết trước bà Ư. Ngày 01/4/1997 được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0402413 đứng tên chủ sử dụng là Đỗ Văn N1. Quá trình sử dụng đất, gia đình ông sử dụng ổn định không xảy ra tranh chấp với ai, năm 2018 gia đình ông xây dựng bếp, bể nước và công trình phụ giáp với phần đất của gia đình ông Đ. Khi gia đình ông xây dựng, gia đình ông Đ không có ý kiến gì. Nay, ông Đ đề nghị Toà án buộc ông phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm và tháo rỡ công trình xây lấn sang diện tích đất nhà ông Đ, ông không đồng ý. Vì gia đình ông chỉ sử dụng đúng diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, ông không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ2.
2
Tại các biên bản lấy lời khai của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị M, ông Đỗ Văn M1, bà Đỗ Thị H1, ông Đỗ Hữu C, ông Đỗ Hữu Chính thống N2 với lời khai của ông Đỗ Hữu N về nguồn gốc diện tích 301m² đất tại thửa đất số 389, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; thống nhất về hàng thừa kế của bà Nguyễn Thị Ư, không có bổ sung gì thêm và đều không có yêu cầu độc lập.
Theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đang tranh chấp cụ thể như sau:
- Đối với diện tích đất nhà ông Đỗ Văn Đ tại thửa đất số 388, tờ bản đồ số 4; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng có diện tích và tứ cận như sau: Phía Đông (giáp hộ ông Đỗ Văn Q các mốc 13, 12, 11) dài 15,52m + 6,125m, 15,15m; phía Bắc, phía Nam và phía Bắc (cạnh giáp hộ ông N3 các mốc 11, 10, 9, 8) dài 3,55m + 15,15 + 11,20m; phía Tây (cạnh giáp áo tập thể và giáp thửa đất 389 ông N – phần tranh chấp các mốc 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2) dài 6,66m + 2,13m + 0,41m + 10,48m + 0, 47m + 9,42m + 9,48m; phía Nam (Cạnh giáp đường xóm các mốc 2, 13) dài 14,33m. Tổng diện tích là 471,5m².
- Đối với diện tích đất nhà ông Đỗ Hữu N (Đỗ Văn N1) thửa đất số 389, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng có diện tích và tứ cận như sau: Phía Đông cạnh giáp thửa đất số 388 của ông Đ (phần tranh chấp có các mốc 2, 3, 4, 5, 6, 7) dài 9,48m + 9,43m + 4,47m + 10,48m; phía Bắc (cạnh giáp ao tập thể các mốc 6, 7 ,17, 16) dài 0,41m + 7,44,3m + 4,09m; phía Tây cạnh giáp đất ông T1 các mốc 16, 15, 14, 18 dài 18,95m + 2,30m + 8,70m; phía Nam cạnh giáp đường xóm các mốc 18, 19, 20, 21, 2 dài 0,61m + 0,52m + 0,67m + 7,0m. Tổng diện tích là 305,4m².
- Đối với diện tích đất nhà ông Đỗ Văn Q tại thửa đất số 387, tờ bản đồ số 04 là hộ giáp danh với thửa đất số 388 của ông Đ thể hiện: Cạnh phía Đông giáp ngõ xóm dài 16,22m; cạnh phía Bắc giáp nhà ông N3 dài 15,20m; cạnh Tây giáp thửa đất nhà ông Đ dài 6,12 + 15,52m; cạnh Nam giáp ngõ xóm dài 15,91m.
Giá trị đất theo kết quả định giá là 5.000.000 (Năm triệu) đồng/m². Các đương sự đều thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Với nội dung nêu trên tại Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn Đ. Buộc ông Đỗ Hữu N (Đỗ Văn N1) phải trả cho ông Đỗ Văn Đ giá trị bằng tiền đối phần đất lấn chiếm theo các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 3 diện tích là 06m² tại thửa đất số 388, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng. Thành tiền là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng; ông Đỗ Hữu N được quyền sử dụng 06m² đất theo các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 3 tại thửa đất số 388, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng (Có sơ đồ kèm theo).
3
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án này.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự và các vấn đề khác.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là ông Đỗ Văn Đ, đối với bản án sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đề nghị Toà án phúc thẩm: Xác định ông Đỗ Hữu N đã lấn chiếm sang thửa đất của nguyên đơn với tổng diện tích 22m2, cụ thể là: Cạnh phía Đông Nam là 0,3m; phía Tây Nam là 0,25m; phía Tây 32,7m, cạnh phía Bắc 0,25m, 0,8m, 0,7m;1,14m, 1,0m; 0,7m; 0,3m. Buộc ông Đỗ Hữu N phá dỡ các công trình lấn chiếm, hoàn trả toàn bộ diện tích đất lấn chiếm. Yêu cầu ông Đỗ Hữu N chịu toàn bộ chi phí định giá, chi phí thẩm định tại chỗ là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Đ giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự cơ bản thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn là ông Đỗ Văn Đ. Sửa bản án sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn có đề nghị Hội đồng xét xử về chi phí thẩm định và định giá theo quy định của pháp luật. Ông Đ khởi kiện ông N lấn chiếm sang đất nhà ông 25m², Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc ông Đỗ Hữu N phải trả lại giá trị bằng tiền đối với phần đất lấn chiếm 6m² (bằng 24% so với yêu cầu khởi kiện). Như vậy, về chi phí tố tụng, ông Đ phải chịu 76%, ông N chịu 24%. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên ông Đ phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là không đúng quy định pháp luật.
4
Về án phí: Do Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc ông Đỗ Hữu N phải trả lại giá trị bằng tiền đối với phần đất lấn chiếm 6m², nên ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần không được chấp nhận. Do vậy, ông Đ phải chịu án phí có giá ngạch đối với diện tích 19m² còn lại mà Tòa án không chấp nhận. Việc Tòa án tuyên ông Đ phải chịu án phí 300.000 đồng là không đúng quy định pháp luật.
- Về án phí: Ông Đỗ Văn Đ không phải chịu án phí phúc thẩm.
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Viện Kiểm sát tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là ông Đỗ Văn Đ khởi kiện ông Đỗ Hữu N về tranh chấp đất đai, tại thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng. Do đó, căn cứ vào khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Về người tham gia tố tụng: Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, những người này đã vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- Về nội dung vụ án:
[3] Đối với diện tích đất nhà ông Đỗ Văn Đ theo trích đo bình đồ hiện trạng thửa đất số 388, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 482409 do UBND huyện V cấp ngày 14/01/2003 có ghi diện tích đất và tứ cận như sau: Phía Đông (giáp hộ ông Đỗ Văn Q (bà Đỗ Thị C2) và ông N3) dài 22,8m + 3,2m + 14,5m; phía Bắc, phía Bắc cạnh giáp ông Đỗ Văn Đ3 dài 11m + 1,5m; phía Tây (cạnh giáp áo tập thể và giáp thửa đất 389 ông N dài 3,5m + 34m; phía Nam (Cạnh giáp đường xóm dài 14,8m. Tổng diện tích là 494m².
[4] Theo sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất tại thửa đất số thửa đất số 388, tờ bản đồ số 04 của nhà ông Đ có diện tích đất và tứ cận như sau: Phía Đông (giáp hộ ông Đỗ Văn Q các mốc 13, 12, 11) dài 15,52m + 6,125m, 15,15m; phía Bắc, phía Nam và phía Bắc (cạnh giáp hộ ông N3 các mốc 11, 10, 9, 8) dài 3,55m + 15,15m + 11,20m; phía Tây (cạnh giáp áo tập thể và giáp thửa đất 389 ông N – phần tranh chấp các mốc 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2) dài 6,66m + 2,13m + 0,41m + 10,48m + 0, 47m + 9,42m + 9,48m; phía Nam (Cạnh giáp đường xóm các mốc 2, 13) dài 14,33m. Tổng diện tích là 471,5m².
5
[5] Đối với diện tích đất nhà ông Đỗ Hữu N (Đỗ Văn N1) theo trích đo bình đồ hiện trạng thửa đất số 389, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0402413 do UBND huyện V cấp ngày 01/4/1997 có ghi: Phía Đông giáp ông T2 (ông Đ) dài 34m; Phía Bắc giáp ao ông T1 (Ao tập thể) dài 11,9m; phía Tây giáp đất ông ông T1 dài 21,5m + 7,5m; phía Nam giáp đường X. Tổng diện tích là 301m².
[6] Theo sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất tại thửa đất số 389, tờ bản đồ số 04 của nhà ông N1 đang sử dụng có diện tích và tứ cận như sau: Phía Đông cạnh giáp thửa đất số 388 của ông Đ (phần tranh chấp có các mốc 2, 3, 4, 5, 6, 7) dài 9,48m + 9,43m + 4,47m + 10,48m; phía Bắc (cạnh giáp ao tập thể các mốc 6, 7 ,17, 16) dài 0,41m + 7,44,3m + 4,09m; phía Tây cạnh giáp đất ông T1 các mốc 16, 15, 14, 18 dài 18,95m + 2,30m + 8,70m; phía Nam cạnh giáp đường xóm các mốc 18, 19, 20, 21, 2 dài 0,61m + 0,52m + 0,67m + 7,0m. Tổng diện tích là 305,4m².
[7] Đối với diện tích đất nhà ông Đỗ Văn Q theo trích đo bình đồ hiện trạng thửa đất số 387, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M938373 do UBND huyện V cấp ngày 14/01/2003 có ghi diện tích đất và tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường xóm dài 17,4m; phía Bắc, phía Bắc cạnh giáp ông Đỗ Văn N3 dài 16,2m; phía Tây (cạnh giáp áo tập thể và giáp thửa đất 388 của ông Đ dài 22,8m; phía Nam cạnh giáp đường xóm dài 14,5m. Tổng diện tích là 308m².
[8] Theo sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất tại thửa đất số 387, tờ bản đồ số 04 là hộ giáp danh với thửa đất số 388 của ông Đ thể hiện: Cạnh phía Đông giáp ngõ xóm dài 16,22m; cạnh phía Bắc giáp nhà ông N3 dài 15,20m; cạnh Tây giáp thửa đất nhà ông Đ dài 6,12 + 15,52m; cạnh Nam giáp ngõ xóm dài 15,91m.
[9] Theo sơ đồ lồng ghép giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với sơ đồ hiện trạng sử dụng đất của thửa đất số 387, 388, 389 tờ bản đồ số 04 lấy cạnh phía Đông giáp ngõ xóm thửa đất số 387 của nhà ông Q làm mốc thể hiện:
[9.1] Thửa đất 387, tờ bản đồ số 04 của ông Đỗ Văn Q có cạnh phía Nam theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dài 14,5m; theo hiện trạng sử dụng đất dài 15,76m - Thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1,26m; cạnh phía Bắc thửa đất số 387 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dài 16,2m; theo hiện trạng sử dụng đất dài 15,2m - Thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1m.
[9.2] Thửa đất 388, tờ bản đồ số 04 của ông Đỗ Văn Đ có cạnh phía Nam và cạnh phía Đông phần đất giáp với thửa đất nhà ông Đỗ Văn Q thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các mốc 13, 13.1 – 12, 13 diện tích là 9,8m2, thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các mốc 12, 11, 11.1 diện tích là 4,3m2; cạnh phía Tây giáp thửa đất số 389 của ông N1 có cạnh phía Nam và phía Tây thửa đất thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các mốc 1, 2, 3 diện tích là 3,67m; thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 3 diện tích là 6m (Có sơ đồ kèm theo).
6
[9.3] Thửa đất 389, tờ bản đồ số 04 của ông N1 có cạnh phía Nam và cạnh phía Đông phần đất giáp với thửa đất nhà ông Đ thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các mốc 1, 2, 3 diện tích là 3,67; thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 3 diện tích là 6m (Có sơ đồ kèm theo).
[10] Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành lồng ghép giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với sơ đồ hiện trạng sử dụng đất của thửa đất số 387, 388, 389 để xác định phần diện tích đất của ông Đ có bị thiếu đất không, thiếu về phía ông N1 hay về bên ông Q. Cách làm như vậy của Toà cấp sơ thẩm là hoàn toàn chính xác và khoa học. Từ việc đánh giá như trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng diện tích đất theo hiện trạng sử dụng đất của ông Đỗ Văn Đ thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về phía nhà ông N1 tại các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 3 là 6m2 nhưng thừa so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các mốc 1,2,3 là 3,67m2. Trên phần đất thiếu này ông N1 đã xây dựng công trình kiên cố từ năm 2018, khi xây ông Đ không có ý kiến gì. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn Đ. Buộc ông Đỗ Hữu N phải trả lại giá trị bằng tiền đối với phần đất lấn chiếm 6m² là có căn cứ.
[11] Đối với phần diện tích 3,67m² tại các mốc 1,2,3 mà ông Đ sử dụng sang phần đất nhà ông N do ông N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Toà án cấp sơ thẩm không xét là đúng.
[12] Về chi phí tố tụng: Tại cấp phúc thẩm, ông Đỗ Văn Đ đề nghị xem xét chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo quy định của pháp luật, Ông Đ khởi kiện ông N lấn chiếm sang đất nhà ông 25m², Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc ông Đỗ Hữu N phải trả lại giá trị bằng tiền đối với phần đất lấn chiếm 6m² (bằng 24% so với yêu cầu khởi kiện). Như vậy, về chi phí tố tụng, ông Đ phải chịu 76%, ông N chịu 24%. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên ông Đ phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là không đúng quy định pháp luật, ông N phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền chi phí tố tụng này. Tài liệu trong hồ sơ thể hiện ông Đ đã nộp 15.000.000 đồng tiền chi phí tố tụng.
7
[13] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc ông Đỗ Hữu N phải trả lại giá trị bằng tiền đối với phần đất lấn chiếm 6m², nên ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần không được chấp nhận. Do vậy, ông Đ phải chịu án phí có giá ngạch đối với diện tích 19m² còn lại mà Tòa án không chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên ông Đ phải chịu án phí 300.000 đồng là không đúng quy định pháp luật, nên cần phải sửa lại phần án phí.
[14] Từ những phân tích nêu trên nhận thấy Bản án sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của TAND huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng còn có thiếu sót trong phần quyết định về chi phí tố tụng và án phí, nên chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đ về chi phí tố tụng. Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa phần chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm.
[15] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Văn Đ được chấp nhận một phần nên ông Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 296; khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 174; 175; 176 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 170; 203 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 1 Điều 26; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Đỗ Văn Đ. Sửa một phần bản án sơ thẩm.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn Đ. Buộc ông Đỗ Hữu N (Đỗ Văn N1) phải trả cho ông Đỗ Văn Đ giá trị bằng tiền đối phần đất lấn chiếm theo các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 3 diện tích là 06m² tại thửa đất số 388, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng. Thành tiền là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng; ông Đỗ Hữu N được quyền sử dụng 06m² đất theo các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 3 tại thửa đất số 388, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng (Có sơ đồ kèm theo).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án này.
2. Về án phí:
- Ông Đỗ Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.750.000 đồng. Ông Đ đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009261 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, ông Đ còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 4.450.000 (bốn triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đỗ Hữu N, nhưng ông Đỗ Hữu N phải chịu 24% chi phí thẩm định, định giá tài sản với số tiền là: 3.600.000 đồng (nộp tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo).
- Trả lại ông Đỗ Văn Đ số tiền 3.600.000 đồng (tiền thẩm định và định giá tài sản do Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo thu) và 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm ông Đ đã nộp theo biên lai số 0009452 ngày 17/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hữu Trường |
9
Bản án số 25/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp đất đai
- Số bản án: 25/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
