Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG


Bản án số: 25/2025/DS-PT

Ngày: 11 - 02 - 2025

V/v: T/c về di sản thừa kế; t/c

hợp đồng tặng cho quyền sử

dụng đất; t/c về hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng

đất và t/c hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thủy
Các Thẩm phán: Ông Dương Quốc Tuấn
Ông Hồ Văn Luông

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Như Ý - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024, về “Tranh chấp về di sản thừa kế; tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 222/2024/QĐPT-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024; Thông báo về việc ngày mở lại phiên tòa số 02/TB-TA ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Lê Thị H, sinh năm 1969.
  2. Địa chỉ: Số A ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

  3. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1953.
  4. Bà Lê Thị N, sinh năm 1964.
  5. Bà Lê Thị C, sinh năm 1965.
  6. Cùng địa chỉ: Ấp K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Thanh P - Văn phòng Luật sư Trần Thanh P thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Trọng C1, sinh năm 1977.
  2. Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

    Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lâm Văn S, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số I T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

  3. Ông Lê Văn C2, sinh năm 1962
  4. Người giám hộ của ông Lê Văn C2: Bà Nguyễn Thị Ánh N1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Ấp K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1979.
  2. Địa chỉ: Số F, khu tái định cư P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số B, đường B, khu Dân cư T, Phường P, Quận C, thành phố Cần Thơ.

  3. Ông Huỳnh Minh H1, sinh năm 1981.
  4. Địa chỉ: Số F Q, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  5. Ông Trần Văn G, sinh năm 1964.
  6. Chị Trần Thị T2, sinh năm 1988.
  7. Anh Trần Văn K, sinh năm 1986.
  8. Cùng địa chỉ: A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  9. Ông Lê Văn N2, sinh năm 1955.
  10. Bà Nguyễn Thị Ánh N1, sinh năm 1963.
  11. Chị Lê Thị Sao B, sinh năm 1998.
  12. Chị Lê Thị Hà X, sinh năm 1993.
  13. Chị Lê Thị Ngân H2, sinh năm 1994.
  14. Chị Lê Thị Như Ý, sinh năm 1999.
  15. Anh Lê Phúc V, sinh năm 2002.
  16. Cùng địa chỉ: Ấp K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  17. Ông Huỳnh Học Đ1, sinh năm 1954.
  18. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  19. Ông Nguyễn Thống N3, sinh năm 1957.
  20. Địa chỉ: K, đường V, khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Người kháng cáo:

  1. Bị đơn ông Nguyễn Trọng C1.
  2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn T.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ bà là ông Lê Văn D và bà Bùi Thị B1 tạo lập, đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cụ D, được UBND huyện C cấp năm 1993, diện tích 21.120m². Thời điểm năm 2009, cụ D lập hợp đồng tặng cho QSDĐ cho toàn bộ phần đất nêu trên cho ông Lê Văn C2. Nay yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn D và ông Lê Văn C2, vì phần đất tranh chấp là tài sản chung của cha mẹ bà, phía cụ B1 không có tên trong hợp đồng tặng cho và các anh em bà trong gia đình cũng không hay biết việc tặng cho đất. Đối với yêu cầu chia thừa kế thì các anh em trong gia đình tự thoả thuận và thống nhất với nhau nên rút lại không yêu cầu Toà án chia thừa kế mà tự chia với nhau.

Bà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn C2 và ông Nguyễn Trọng C1. Lý do yêu cầu huỷ là bà Lê Thị Đ là chị lớn trong gia đình đã ở trên đất từ trước đến nay nhưng không được cho phần đất nào hết.

Bà yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng từ ông Nguyễn Trọng C1 sang ông Huỳnh Văn T và từ ông Huỳnh Văn T sang ông Huỳnh Minh H1.

Nguyên đơn bà Lê Thị Đ trình bày: Bà có cất nhà trên đất và ở từ 1980 cho đến nay, việc cụ D tặng cho đất ông C2 và việc chuyển nhượng từ ông C2 sang ông C1 và những người khác trong gia đình không ai hay biết gì. Bà Đ thống nhất và cùng yêu cầu khởi kiện với bà H, ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Đối với yêu cầu chia thừa kế thì xin rút lại vì anh em tự thoả thuận và thống nhất chia với nhau.

Nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày: Bà N đã cất nhà kiên cố trên đất hơn 30 năm và có trồng cây trên đất, việc cụ D tặng cho đất ông C2 và việc chuyển nhượng từ ông C2 sang ông C1 và những người khác trong gia đình không ai hay biết gì. Bà N thống nhất và cùng yêu cầu khởi kiện với bà H, ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Đối với yêu cầu chia thừa kế thì xin rút lại vì anh em tự thoả thuận và thống nhất chia với nhau.

Nguyên đơn bà Lê Thị C trình bày: Việc cụ D tặng cho đất ông C2 và việc chuyển nhượng từ ông C2 sang ông C1 và những người khác trong gia đình không ai hây biết gì. Đối với yêu cầu chia thừa kế thì xin rút lại vì anh em tự thoả thuận và thống nhất chia với nhau.

Người giám hộ cho bị đơn Lê Văn C2 là bà Nguyễn Thị Ánh N1 trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C2, bà Ánh N1 với ông C1. Bà N1 thừa nhận cùng chồng là ông C2 có ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng cho ông C1 nhưng bà không có biết nội dung. Bà Ánh N1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

Bị đơn ông Nguyễn Trọng C1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Lâm Văn S trình bày: Phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn vì ông C1 đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông C2, bà N1 và ông C1 đã đứng tên quyền sử dụng đất. Đối với các hợp đồng uỷ quyền chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn T và ông Nguyễn Minh H3 nay ông C1 không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng, thống nhất trả tiền lại cho ông Huỳnh Văn T. Nếu được công nhận quyền sử dụng đất thì ông C1 đồng ý để cho các hộ trên đất được tiếp tục ở ổn định và chừa lại nền mộ và đường đi ra nền mộ cho các nguyên đơn. Trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nếu hợp đồng chuyển nhượng giữa ông C2, bà N1 với ông C1 vô hiệu thì yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng, cụ thể là yêu cầu vợ chồng ông C2, bà N1 trả lại số tiền đã nhận 3,1 tỷ đồng và lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn T trình bày: Ông yêu cầu ông Nguyễn Trọng C1 thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, nếu hợp đồng không được thực hiện và trường hợp Toà tuyên hợp đồng vô hiệu thì yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng, cụ thể ông C1 phải trả lại số tiền 2,5 tỷ đồng đã nhận, căn cứ theo hợp đồng đặt cọc mua bán đất ngày 20/12/2018 thì ông C1 phải bồi thường gấp đôi số tiền đã nhận tổng là 05 tỷ đồng. Đối với hợp đồng chuyển nhượng với ông Huỳnh Minh H1 không được thực hiện thì ông trả lại cho ông Huỳnh Minh H1 4,3 tỷ đồng và thống nhất lãi suất 1,5%/ tháng. Nếu được công nhận quyền sử dụng đất thì ông T đồng ý để cho các hộ trên đất được tiếp tục ở ổn định và chừa lại nền mộ và đường đi ra nền mộ cho các nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh H1 trình bày: Ông H1 yêu cầu công nhận phần đất ông đã nhận chuyển nhượng nếu hợp đồng không được thực hiện và trường hợp Toà tuyên hợp đồng vô hiệu thì yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng, cụ thể ông Huỳnh Văn T phải trả lại số tiền 4,3 tỷ đồng và tính lãi suất 1,5%/tháng, tính từ ngày ký hợp đồng chuyển nhượng. Nếu được công nhận quyền sử dụng đất thì ông H1 đồng ý để cho các hộ trên đất được tiếp tục ở ổn định và chừa lại nền mộ và đường đi ra nền mộ cho các nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N2 trình bày: Ông không yêu cầu gì trong vụ án. Ông N2 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của các anh em ông. Yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Học Đ1 trình bày: Trước đó ông C2 chuyển nhượng cho ông C1, ông C1 vay ngân hàng nên thế chấp quyền sử dụng đất (phần đất đang tranh chấp) cho ngân hàng. Khi đó ông C1 không có khả năng trả nợ cho ngân hàng nên ngân hàng dự định xử lý tài sản thế chấp. Khi đó ông T đã bỏ tiền ra trả nợ thay ông C1 để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về. Ông Đ1 có nhận chuyển nhượng từ ông T giá 2,2 tỷ đồng chưa làm thủ tục sau đó sang lại cho ông N3 nhận chuyển nhượng từ ông T. Nay không có ý kiến hay yêu cầu gì vì ông không còn liên quan gì đến phần đất tranh chấp.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Lê Thị H, Lê Thị Đ, Lê Thị N, Lê Thị C.

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Lê Văn C2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh N1 (người giám hộ của ông C2 là Nguyễn Thị Ánh N1).

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Văn T.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Minh H1.

Đình chỉ yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn Lê Thị H, Lê Thị Đ, Lê Thị N, Lê Thị C.

Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn D và ông Lê Văn C2 là vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thực chất hợp đồng vay tiền) giữa ông Lê Văn C2, bà Nguyễn Thị Ánh N1 và ông Nguyễn Trọng C1 vô hiệu.

Buộc ông Lê Văn C2 và bà Nguyễn Thị Ánh N1 trả cho ông Nguyễn Trọng C1 số tiền 1.000.000.000 đồng.

Buộc ông Nguyễn Trọng C1 trả cho ông Huỳnh Văn T số tiền 2.500.000.000 đồng.

Buộc ông Huỳnh Văn T trả cho ông Huỳnh Minh H1 số tiền 4.692.611.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc ông Huỳnh Văn T giao giấy gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên ông Nguyễn Trọng C1 cho cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên cho các hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn D.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí; chi phí tố tụng; quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định.

Cùng ngày 06/5/2024, các đương sự có kháng cáo như sau:

  • - Ông Nguyễn Trọng C1 yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông Lê Văn C2.
  • - Ông Huỳnh Văn T yêu cầu chấp nhận yêu cầu độc lập, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông Nguyễn Trọng C1.
  • - Ông Huỳnh Minh H1 yêu cầu chấp nhận yêu cầu độc lập, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông Huỳnh Văn T.

Ngày 02/12/2024, ông Nguyễn Trọng C1 kháng cáo bổ sung yêu cầu: (1) Buộc ông C2 bàn giao toàn bộ diện tích 21.120m² phần đất tọa lạc tại ấp K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang cho ông C1 quản lý sử dụng. (2) Trường hợp Tòa án tuyên vô hiệu thì buộc ông C2 và người thụ hưởng phần đất này phải trả lại số tiền 3.100.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại theo biên bản định giá là 4.300.0000.000 đồng.

Ngày 04/12/2024, ông Huỳnh Văn T có đơn kháng cáo bổ sung yêu cầu: (1) Yêu cầu công nhận hợp đồng đặt cọc mua bán đất giữa ông T và ông C1 ngày 20/12/2018. (2) Buộc ông C1 bàn giao toàn bộ diện tích 21.120m² phần đất tọa lạc tại ấp K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang cho ông T quản lý sử dụng. (3) Trường hợp Tòa án tuyên vô hiệu thì buộc ông C1 và người thụ hưởng phần đất này phải trả lại số tiền 2.500.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại theo biên bản định giá là 4.300.0000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm đương sự trình bày:

  • - Các nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Huỳnh Minh H1 rút toàn bộ đơn yêu cầu độc lập, đơn kháng cáo.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Trọng C1 trình bày: Ngày 13/4/2017 ông C1 cho ông C2 vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) để làm ăn, tuy nhiên do ông C2 không có tiền trả nợ ngân hàng nên ngày 17/4/2024 ông C1 cho ông C2 vay thêm 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) nên hai bên thỏa thuận ký xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm triệu đồng). Ông C1 trực tiếp đưa tiền cho ông C2 tại Ngân hàng có xác nhận của đại diện Ngân hàng. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng giữa hai bên, đồng ý trừ lại phần nền mộ và ổn định phần nhà cho các hộ đang sống trên đất; Trường hợp vô hiệu một phần thì đồng ý giao lại 50% phần đất có mộ và nhà; Trường hợp vô hiệu hết toàn bộ thì yêu cầu ông C2 và người thụ hưởng trên đất trả lại 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm triệu đồng) và phần chênh lệch giá theo biên bản định giá là 4.300.0000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm triệu đồng).
  • - Đại diện ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Huỳnh Văn T trình bày: Việc cụ D tặng cho đất cho ông C2 là hợp pháp, ông C2 đã được nhà nược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó ông C2 chuyển nhượng đất cho ông C1, ông C1 đã giao đủ tiền cho ông C2 tại Ngân hàng, ông C2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho ông T. Vì vậy đề nghị Hội đồng xem xét bảo vệ quyền lợi của người thứ 3 ngay tình, công nhận việc chuyển nhượng đất giữa ông C1 và ông T; Trường hợp hủy toàn bộ hợp đồng thì yêu cầu ông C1 trả lại số tiền đã nhận 2.925.160.000 đồng (Hai tỷ chín trăm hai mươi lăm triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) và phần chênh lệch giá theo biên bản định giá là 4.300.0000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm triệu đồng).
  • - Người giám hộ cho bị đơn ông Lê Văn C2 là bà Nguyễn Thị Ánh N1 trình bày: Giữ nguyên yêu cầu phản tố, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ D và ông C2; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C2 và ông C1; và giữa ông C1 và ông T. Đồng ý trả lại cho ông C1 số tiền đã nhận là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Trần Thanh P trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phạm vi kháng cáo của các đương sự; Việc ông C1 và ông T đề nghị xem xét yếu tố ngay tình để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không đúng, vì trước khi nhận chuyển nhượng đất thì có người khác đang cất nhà trên đất, trên đất có mộ của gia đình. Cụ D tặng cho đất cho ông C2 là để ông C2 vay tiền tại Ngân hàng chứ không phải là cho đất trên thực tế; Các nguyên đơn không có nhận tiền nên không có nghĩa vụ bồi thường theo yêu cầu của ông C1 và ông T. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm:

Về tố tụng, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự;

Về nội dung: Kiểm sát viên cho rằng đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ D và ông C2 là đảm bảo đúng theo quy định pháp luật, ông C2 cũng đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ D và ông C2; Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C2 và ông C1, việc bà N1 cho rằng không có việc chuyển nhượng mà đây là hợp đồng giả cách cho hợp đồng vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) là không phù hợp, bởi lẽ hợp đồng vay tài sản có trước hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hơn 01 tháng, ông C2 có ký tên vào biên nhận nhận số tiền 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm triệu đồng). Từ đó chứng minh rằng số tiền trong hợp đồng vay lúc ban đầu đã được hợp nhất vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/4/2017 nên có căn cứ xác định vợ chồng ông C2 có chuyển nhượng đất cho ông C1 với số tiền 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm triệu đồng) là đúng sự thật; Tuy nhiên do trên phần đất có nhà của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng chưa được ghi nhận ý kiến nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông C2, bà N1 và ông C1 bị vô hiệu và được xử lý hậu quả theo quy định pháp luật; Đối với hợp đồng ủy quyền ngày 20/12/2018 giữa ông Nguyễn Trọng C1 với Huỳnh Văn T thì tại phiên tòa phúc thẩm ông C1 và ông T cùng thống nhất trình bày hợp đồng ủy quyền thực chất là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với số tiền chuyển nhượng là 2.925.160.000 đồng (Hai tỷ chín trăm hai mươi lăm triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) nên được ghi nhận. Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C2, bà N1 với ông C1 bị vô hiệu nên kéo theo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C1 và ông T bị vô hiệu theo, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý hậu quả theo quy định pháp luật; Ông Huỳnh Minh H1 tại phiên tòa phúc thẩm đã rút toàn bộ đơn yêu cầu độc lập và đơn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy và đình chỉ một phần bản án sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh H1; Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Huỳnh Văn T; Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Nguyễn Trọng C1. Căn cứ vào Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bán án sơ thẩm; hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Trọng C1, ông Huỳnh Văn T và ông Huỳnh Minh H1 kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của ông Huỳnh Minh H1, Hội đồng xét xử nhận định: Tại phiên tòa ông H1 rút toàn bộ đơn yêu cầu độc lập, rút toàn bộ đơn kháng cáo và được các đương sự khác thống nhất. Xét thấy việc rút đơn yêu cầu độc lập và đơn kháng cáo của ông H1 là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 244, Điều 298 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy và đình chỉ 01 phần bản án dân sự sơ thẩm liên quan đến việc xem xét đơn yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Minh H1. Dành quyền quyền khởi kiện cho ông H1 với ông T khi có yêu cầu.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Trọng C1:

[3.1] Xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Lê Văn D và ông Lê Văn C2:

Về hình thức: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 17/01/2009 (bút lục 225) được lập thành văn bản và chứng thực của Ủy ban nhân dân xã P (nay là thị trấn N) là đảm bảo theo quy định tại Điều 129 Luật đất đai năm 2003.

Về nội dung: Cụ Lê Văn D tặng cho ông Lê Văn C2 toàn bộ phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000094 cấp ngày 20/9/1993 do ông Lê Văn D đứng tên. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các nguyên đơn và bà N1 đều khẳng định cho rằng nguồn gốc phần đất là của cụ D và vợ là cụ B1; Tuy nhiên các đương sự không chứng minh được đây là tài sản chung của cụ D và cụ B1; Cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai của các nguyên đơn và bà N1 để xác định đây là tài sản chung của cụ D và cụ B1 là chưa đủ cơ sở, bởi lẽ tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 08/5/1992 (bút lục 218) cụ D kê khai nguồn gốc phần đất là đất cố cựu. Ngày 20/9/1993 cụ Lê Văn D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 21.120m². Trên thực tế thì các nguyên đơn đều xác định phần đất này trước đến nay do vợ chồng ông C2 ở chung với cụ D và cụ B1 quản lý sử dụng (bút lục 188-199). Từ khi cụ D tặng cho ông C2 phần đất từ năm 2009 đến năm 2014 (khi cụ B1 chết) thì cụ B1 biết nhưng cũng không có bất cứ đơn thưa, khiếu nại gì của cụ B1 liên quan đến việc cụ D tặng cho đất cho ông C2. Căn cứ vào Công văn số 62/PTN ngày 18/3/2020 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C (bút lục 490 - 491) thì việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ D và ông C2 là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C xác nhận nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý ngày 19/11/2009 từ cụ D qua cho ông C2 là đúng quy định.

Đối với lời trình bày của các nguyên đơn cho rằng lý do yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ D và ông C2 là vì bà Lê Thị Đ là chị lớn trong gia đình đã ở trên đất từ trước đến nay nhưng không được cho phần đất và trên phần đất có nhà của bà Lê Thị N. Xét thấy lý do trên là không có cơ sở, bởi lẽ phần đất trên là của cụ D người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc định đoạt cho ai, chia đất như thế nào do cụ D quyết định, và việc cụ D tặng cho đất cho ông C2 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không trái quy định pháp luật. Do đó việc các nguyên đơn và bị đơn Lê Văn C2 yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ D với ông C2 vô hiệu là không có cơ sở để chấp nhận.

[3.2] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 13/4/2017, giữa ông Nguyễn Trọng C1 với ông Lê Văn C2, bà Nguyễn Thị Ánh N1:

Về hình thức: Hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng tại Văn phòng C5 nên đảm bảo theo quy định tại Điều 129 Luật đất đai năm 2003.

- Về nội dung: ông Lê Văn C2, bà Nguyễn Thị Ánh N1 thoả thuận chuyển nhượng phần đất cho ông Nguyễn Trọng C1 các thửa 761, 759, 758 tổng diện tích là 20.807,5m² với giá 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng). Đến ngày 14/4/2017, đã chỉnh lý sang tên cho ông Nguyễn Trọng C1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa đất trên.

Bà N1 cho rằng giữa ông C2 và ông C1 không có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, việc ký hợp đồng chuyển nhượng chỉ là hợp đồng giả cách cho hợp đồng vay tài sản có thế chấp quyền sử dụng đất trong thời hạn 05 năm, số tiền vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Hết thời hạn 05 năm thì ông C1 có nghĩa vụ giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C2. Lời trình bày của bà N1 không được phía ông C1 thừa nhận. Ông C1 thừa nhận lúc đầu có cho ông C2 vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) để ông C2 làm ăn; Tuy nhiên do ông C2 thiếu nợ Ngân hàng nên cần thêm 2.100.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm triệu đồng) nữa nên vợ chồng ông C2 mới chuyển nhượng phần đất này lại với số tiền tổng cộng là 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm triệu đồng). Hợp đồng chuyển nhượng thì chỉ ghi nhận 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng) để giảm đóng thuế nhà nước nhưng giá trị thực là 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm triệu đồng). Lời trình bày của ông C1 phù hợp với biên nhận nhận tiền của ông C1 với ông C2 có xác nhận của cán bộ ngân hàng V2 là ông Trần Hoàng V1 (bản chính tại bút lục 503), tại Bản tự khai ngày 17/4/2024 ông Trần Hoàng V1 xác nhận nội dung này; và hợp đồng thỏa thuận mua bán nhà đất ngày 09/3/2017 giữa ông C2 và ông C1 (bản chính); Bà N1 tại phiên tòa cũng thừa nhận chữ ký của mình trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có công chứng) với ông C1; Bà N1 cũng được Tòa án công khai chứng cứ là chữ ký của ông C2 trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thỏa thuận mua bán nhà đất, biên nhận nhận tiền nhưng bà N1 không yêu cầu Tòa án giám định chữ ký của ông C2 trên các văn bản nêu trên. Ngoài ra, tại Biên bản ghi lời khai của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đối với ông C2 (thời điểm ông C2 còn minh mẫn) tại bút lục 181-182 có sự chứng kiến của người giám hộ bà N1 thì bà N1 và ông C2 thừa nhận có chuyển nhượng đất cho ông C1. Do đó việc bà N1 cho rằng không có việc vợ chồng bà chuyển nhượng đất cho ông C2 và hợp đồng chuyển nhượng là hợp đồng giả cách để che giấu hợp đồng vay tiền và yêu cầu phản tố để hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C2, bà N1 và ông C1 là không có cơ sở để chấp nhận.

Tuy nhiên, xét thấy tại thời điểm ông C2, bà N1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì trên phần đất có nhà của cụ D, nhà của ông C2 và nhà của bà Đ, bà N, nhưng trên hợp đồng chuyển nhượng lại ghi nhận “Những hạn chế về quyền sử dụng đất (nếu có): Không” là không phù hợp, bởi lẽ đây là những căn nhà được xây dựng trước khi vợ chồng ông C2 chuyển nhượng cho ông C1, nên việc vợ chồng ông C2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ ảnh hưởng đến những người đang sinh sống trên đất. Đối với ông C1 khi nhận chuyển nhượng đất cho rằng khi xuống thẩm định tài sản thì có thấy nhà, nền mộ trên đất, nhưng ông lại không tìm hiểu kỹ mà chỉ nghe ý kiến của ông C2 là đất cho người khác thuê để cất nhà ở. Căn cứ vào biên bản thẩm định tài sản thì các căn nhà trên hiện tại nằm ở vị trí ngoài mặt tiền, xây dựng kiên cố, ngoài ra trên đất còn trồng nhiều loại cây trồng lâu năm có giá trị kinh tế cũng như trên đất có các ngôi mộ là người thân của gia đình ông C2 nên việc di chuyển tài sản trên đất là không thể thực hiện được. Từ đó, việc vợ chồng ông C2 giao đất cho ông C1 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không thể thực hiện được trên thực tế. Do đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 13/4/2017, giữa ông Nguyễn Trọng C1 với ông Lê Văn C2, bà Nguyễn Thị Ánh N1 bị vô hiệu theo quy định tại Điều 117, Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2015.

Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường; ...

Xét về lỗi: Ông Lê Văn C2 và bà Nguyễn Thị Ánh N1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Trọng C1 nhưng không thông báo cho những người có tài sản trên đất biết; Ông C1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không xem xét ý kiến của người đang ở trên đất nên việc làm cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đi đến thực hiện được là lỗi hỗn hợp của cả hai, được chia theo tỷ lệ 5/5.

Căn cứ vào chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần Thẩm định giá Thống Nhất ngày 14/3/2023 thì giá trị quyền sử dụng đất đang tranh chấp được định giá là 5.085.222.200 đồng (Năm tỷ không trăm tám mươi lăm triệu hai trăm hai mươi hai nghìn hai trăm đồng); Tuy nhiên tại đơn kháng cáo bổ sung và tại phiên tòa phía đại diện ủy quyền của ông C1 yêu cầu căn cứ vào Biên bản định giá tài sản 4.300.0000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm triệu đồng); Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thì không có biên bản định giá nào thể hiện giá trị quyền sử dụng đất là 4.300.0000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm triệu đồng) mà số tiền trên là số tiền ông T sang nhượng đất cho ông H1. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận số tiền 4.300.0000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm triệu đồng) làm căn cứ giải quyết vụ án theo ý kiến của đại diện ủy quyền của ông C1 và ý kiến trên có lợi cho bị đơn ông C2, vì vậy số tiền chênh lệch được tính như sau:

4.300.0000.000 đồng – 3.100.000.0000 đồng = 1.200.000.000 đồng.

Do lỗi hỗn hợp nên các bên phải chịu 50% mức độ lỗi tương đương: 1.200.000.000 đồng được chia 2 và mỗi bên phải chịu số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng).

Do đó ông C2, bà N1 có trách nhiệm trả lại cho ông C1 là: 3.100.000.0000 đồng + 600.000.000 đồng = 3.700.0000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm triệu đồng).

[3.3] Xét kháng cáo của ông Huỳnh Văn T:

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện ủy quyền của ông C1 và ông T đều khẳng định thời điểm trên ông C1 cần vốn nên chuyển nhượng đất cho ông T, do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh C6 (viết tắt Ngân hàng V2) nên hai bên không làm hợp đồng chuyển nhượng công chứng được, vì vậy mới làm hợp đồng ông C1 ủy quyền cho ông T ngày 20/12/2018 để “quản lý, sử dụng, chuyển nhượng, chỉnh lý biến động...” đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 000094 cấp ngày 20/9/1993. Giá chuyển nhượng là 2.925.160.000 đồng. Xét thấy mặc dù hình thức tiêu đề là giấy ủy quyền, nhưng nội dung giấy ủy quyền là chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C2, bà N1 với ông C1 bị vô hiệu nên việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C1 và ông T cũng bị vô hiệu. Ông C1 và ông T cùng thống nhất tại phiên tòa phúc thẩm nếu hủy hợp đồng thì ông C1 sẽ trả lại ông T số tiền đã nhận là 2.925.160.000 đồng và phần chênh lệch giá được tính như sau:

4.300.000.000 đồng - 2.925.160.000 đồng = 1.374.840.000 đồng.

Do lỗi hỗn hợp nên các bên phải chịu 50% mức độ lỗi tương đương 1.374.840.000 đồng chia 2 và mỗi bên phải chịu số tiền 687.420.000 đồng.

Như vậy, ông C1 có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền là: 2.925.160.000 đồng + 687.420.000 đồng = 3.612.580.000 đồng (Ba tỷ, sáu trăm mười hai triệu, năm trăm tám mươi nghìn đồng).

[4] Xét quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Trần Thanh P đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận lời trình bày của ông C1 và ông T về việc yêu cầu xem xét công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để bảo vệ quyền lợi ngay tình của người thứ ba và yêu cầu người thụ hưởng trên đất trả tiền cho ông C1 và ông T là phù hợp nên được chấp nhận. Bởi lẽ, theo như phân tích ở trên thì thời điểm ông C1 nhận chuyển nhượng đất của ông C3 và bà N1, cũng như thời điểm ông T nhận chuyển nhượng đất của ông C1 thì trên đất đã có nhà của bà Đ, bà N; Vợ chồng ông C2 là người trực tiếp chuyển nhượng đất cho ông C1 và ông C1 cũng giao tiền cho ông C2 xong; ông T cũng đã giao tiền cho ông C1 không giao tiền cho các nguyên đơn nên việc buộc những người đang thụ hưởng trên đất trả lại tiền cho ông C4 và ông T là không hợp lý. Không chấp nhận đề nghị của Luật sư về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ D và ông C2.

Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Trọng C1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Văn T là có căn cứ chấp nhận một phần; Chấp nhận một phần đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn luật sư Trần Thanh P; Chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, căn cứ Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 244, Điều 298, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 122, Điều 129, Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167, Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị đơn Nguyễn Trọng C1.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Huỳnh Văn T.

Hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Minh H1 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Văn T và ông Huỳnh Minh H1.

Sửa bản án sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Lê Thị H, Lê Thị Đ, Lê Thị N, Lê Thị C về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn D và ông Lê Văn C2 là vô hiệu; và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn C2, bà Nguyễn Thị Ánh N1 và ông Nguyễn Trọng C1 vô hiệu.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Lê Văn C2 có người giám hộ là Nguyễn Thị N1 về việc yêu cầu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/4/2027 giữa ông Lê Văn C2, bà Nguyễn Thị Ánh N1 và ông Nguyễn Trọng C1 vô hiệu.

    Buộc ông Lê Văn C2, bà Nguyễn Thị Ánh N1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Trọng C1 số tiền 3.700.000.000đ. (Ba tỷ bảy trăm triệu đồng).

    Không chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông C1 về việc yêu cầu những người đang thụ hưởng trên đất liên đới cùng với ông C2 và bà N1 trả số tiền trên.

  3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Văn T.

    Hợp đồng ủy quyền ngày 20/12/2018 (thực chất là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) giữa ông Nguyễn Trọng C1 và ông Huỳnh Văn T bị vô hiệu.

    Buộc ông Nguyễn Trọng C1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền 3.612.580.000 đồng (Ba tỷ, sáu trăm mười hai triệu, năm trăm tám mươi nghìn đồng).

    Không chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông T về việc yêu cầu những người đang thụ hưởng trên đất liên đới cùng với ông C2 và bà N1 trả số tiền trên.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Buộc ông Huỳnh Văn T giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính số 000094 ngày 20 tháng 9 năm 1993 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lê Văn D qua các lần chỉnh lý trang 4 đến ngày 14/04/2017 ông Lê Văn C2 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trọng C1 để giao lại giấy này cho bà Nguyễn Thị Ánh N1 là người giám hộ của ông Lê Văn C2. Bà Nguyễn Thị Ánh N1 là người giám hộ của ông Lê Văn C2 được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

  4. Hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Minh H1 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Văn T và ông Huỳnh Minh H1. Dành quyền khởi kiện cho ông Huỳnh Minh H1 đối với ông Huỳnh Văn T khi có yêu cầu.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bà Lê Thị H, bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị N, bà Lê Thị C mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo các biên lai 0004313, 0004314, 0004315, 0004316 cùng ngày 04/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
    • Ông Lê Văn C2 và bà Nguyễn Thị Ánh N1 phải chịu là 106.000.000 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu đồng), được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007805 ngày 07/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí và ông Lê Văn C2 và bà Nguyễn Thị Ánh N1 phải nộp thêm 105.700.000 đồng (Một trăm lẻ năm triệu bảy trăm nghìn đồng).
    • Ông Nguyễn Trọng C1 phải nộp 104.251.600 đồng (Một trăm lẻ bốn triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm đồng).
    • Ông Huỳnh Văn T được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007826 ngày 24/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
    • Ông Huỳnh Minh H1 được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007579 ngày 21/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
  6. Chi phí tố tụng:
    • - Chi phí thẩm định, định giá tài sản, trích lục hồ sơ: Nguyên đơn bà Lê Thị H, bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị N, bà Lê Thị C phải chịu 43.092.000 đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm chín mươi hai nghìn đồng), đã nộp xong.
    • - Chi phí đăng báo đài: Ông Nguyễn Trọng C1 phải chịu là 4.621.500 đồng (Bốn triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn năm trăm đồng), để trả lại cho các nguyên đơn bà Lê Thị H, bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị N, bà Lê Thị C.
  7. Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.

    Ông Nguyễn Trọng C1 được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003030 ngày 30/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

    Ông Huỳnh Văn T được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003008 ngày 08/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

    Ông Huỳnh Minh H1 được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002987 ngày 06/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 11/02/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Đào Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2025/DS-PT ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp về di sản thừa kế; tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 25/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về di sản thừa kế; tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger