|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/DS-PT
Ngày: 10/3/2025
“V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn
Các thẩm phán: Ông Trần Đình Chi
Bà Điêu Thị Bích Lượt
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 05 và ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2024/DSPT ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXPT - DS ngày 29 tháng 11 năm 2024; Thông báo đính chính Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 923/TB-TA ngày 17/12/2024; Quyết định hoãn phiên toà và mở lại phiên toà giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1936.
Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Tiến T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Theo giấy ủy quyền ngày 28/11/2023). Phiên tòa ngày 05/3/2025 bà M, anh T có mặt; Phiên tòa ngày 10/3/2025 bà M vắng mặt, anh T có mặt
Bị đơn: Bà Lương Thị Kim T1, sinh năm 1952.
Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt phiên tòa ngày 05/3/2025 và ngày 10/3/2025
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành T2 - Chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường. (Theo giấy ủy quyền ngày 08/8/2024). Vắng mặt
- Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng T3 - Chức vụ: Công chức Địa chính - Xây dựng. (Theo giấy ủy quyền ngày 10/6/2024). Vắng mặt
- Anh Ngô Huy B, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số nhà B, đường N, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt ngày 05/3/2025, vắng mặt phiên tòa ngày 10/3/2025
* Những người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1946 và bà Lê Thị T5, sinh năm 1951. Đều có địa chỉ: Tổ D, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Lê Thị D, sinh năm 1945. Đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang ở: Nhà B, khu chung cư T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1949. Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Hoài T7, sinh năm 1954.
- Đều có địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Trọng X, sinh năm 1964.
- Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955.
- Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Phạm Văn T8, sinh năm 1951.
- Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Kim T9, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Tiến N, sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Kim T10, sinh năm 1964. Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(Bà T4, D, ông T7, ông X, ông H, ông T8, ông T9, ông N đều có mặt phiên tòa ngày 05/3/2025, vắng mặt phiên tòa ngày 10/3/2025; Ông L, bà Lê Thị T5, ông T6. Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M và các lời khai tiếp theo của anh Nguyễn Tiến T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Năm 1955, bà Nguyễn Thị M có khai hoang, sử dụng chung thửa đất thổ cư với ông Nguyễn Văn H1 (là anh trai chồng bà M đã chết năm 2021) có diện tích gần 400m² tại địa chỉ tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Khoảng năm 1975, ông Nguyễn Văn H1 bán đất cho hộ bà D 256m², phần còn lại 50,2m² thống nhất cho hộ bà M toàn quyền sử dụng riêng. Khoảng năm 1988 - 1989 hộ bà D bán cho bà T5. Đến khoảng năm 1989 - 1990 bà T5 bán lại cho bà T. Năm 1994 bà T bán lại cho bà T1. Việc các hộ phía sau chuyển nhượng qua nhiều lần vẫn thể hiện đúng nguyên hiện trạng từ đó cho đến nay. Tường rào xây dựng phía sau giáp đất hiện tại của bà M do bà T1 tự ý xây dựng (không mời bà M đến xác định ranh giới). Từ năm 1955 đến nay, bà M sử dụng ổn định và không tranh chấp với bất kỳ ai, không hoán đổi, chuyển nhượng, cho thuê và cũng không cho ai mượn thửa đất số 41, tờ bản đồ 29, diện tích 50,2m², loại đất T11 Từ năm 1963 đến năm 2018, Nhà nước có dự án đường điện cao thế đi qua phía trên của thửa đất nên bà M không được phép xây dựng nhà để ở, bà M chỉ được canh tác, trồng cây. Hiện nay, các loại cây lâm lộc trên đất là do bà M trồng và sử dụng. Bà M đề nghị bà Lương Thị Kim T1 trả lại cho bà thửa đất số 41, tờ bản đồ 29, diện tích 50,2m², loại đất T (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và tại phiên tòa anh Nguyễn Tiến T đề nghị bà Nguyễn Thị M có quyền liên hệ với với quan nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Bố mẹ chồng bà có đất ở xóm Đ (nay là tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ), năm 1954 bố mẹ chồng bà có cho ông Nguyễn Văn H1 (là anh trai chồng) thửa đất ở phía trong, thửa đất này đã được ông H1 bán cho bà D, bà D bán cho ông bà Thu L1, ông bà T5 Lại bán cho bà T và bà T bán cho bà T1. Còn phần đất bên ngoài gần đường khoảng gần 100m² thì bà sử dụng từ năm 1955 đến nay. Bà chỉ trồng các cây hoa màu như sắn, chuối, đao và rau ăn hàng ngày, sau này bà có trồng cây vối nay vẫn còn. Do đất dưới hành lang điện cao thế nên bà không được phép xây dựng công trình gì. Bà chỉ sử dụng, quản lý chứ Nhà nước không thu thuế đất nên bà không phải nộp. Bà biết ông H1 đã bán thửa đất phía bên trong cho bà Lê Thị D. Khoảng năm 1979, bà D có nói chuyện với bà là cho bà D đổi cổng đi, vì cổng nhà bà D hướng thẳng vào nóc nhà không tốt nên bà đồng ý đổi cho bà D, bà D còn cho bà hai bao xi măng. Khi đổi đất giữa bà và bà D không có giấy tờ gì mà chỉ nói với nhau bằng miệng. Trong quá trình canh tác sử dụng đất bà không tranh chấp với ai và cũng không cho ai sử dụng hoặc bán cho ai. Bà có cho khu Đoàn K chôn cột điện và chạy đường dây điện qua khu đất để làm đường điện cho nhà văn hóa, sau này trưởng khu là ông K1 còn hỏi bà cho phép khu mở rộng đường lấn vào phần đất của bà để nắn đường cho thẳng, bà cũng đồng ý. Thửa đất của bà và của bà T1 là hai thửa tách biệt, không liên quan đến nhau, bà vẫn sử dụng bình thường từ năm 1955 đến nay cả xóm biết, nhưng do bà chưa có điều kiện để làm bìa đỏ nên đến cuối năm 2023 bà mới ủy quyền cho anh Nguyễn Tiến T đi làm thì mới biết bà T1 có tên trong số mục kê đất đai của phường T, bà rất bức xúc về việc này. Bà mong muốn Tòa án trả lại sự công bằng cho bà và buộc bà T1 phải trả lại đất cho bà.
Bị đơn bà Lương Thị Kim T1 trình bày: Ngày 15/3/1994, tại Giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu, bà có mua của bà Nguyễn Thị T4 một ngôi nhà cấp 4 lợp ngói xi măng và 03 gian bếp cùng toàn bộ cây cối ăn quả, hoa màu xung quanh ngôi nhà có tổng diện tích là 256m² tại địa chỉ tổ A, phố Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ với số tiền là 16.000.000₫ (Mười sáu triệu đồng). Việc mua bán này có giấy viết tay, có xác nhận của tổ trưởng tổ 16 và Ủy ban nhân dân (UBND) phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Đến năm 2004, bà đã làm thủ tục và được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số AB 220676 ngày 22/12/2004, thửa đất số 40, tờ bản đồ 29, diện tích 335,8m² (trong đó có 256m² đất ở, 79,8m² đất vườn) tại địa chỉ tổ A, phố Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Diện tích bà T4 đã chuyển nhượng cho bà là 256m² nhưng trong bìa đỏ bà được cấp lần đầu diện tích là 335,8m² có sự chênh lệch nhau là do trong quá trình đo đạc trước kia là đo bằng thước dây nhưng nay đo bằng máy móc. Năm 2014, bà làm thủ tục tách thửa đất trên thành 02 thửa:
- Thửa 01: Diện tích 154,7m² (đất ở đô thị), thửa đất số 40, tờ bản đồ số 29 do UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 869139 ngày 16/10/2014 mang tên bà Lương Thị Kim T1 tại địa chỉ tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Thửa 02: Diện tích 155,1m² (trong đó đất ở đô thị là 101,3m², đất vườn là 53,8m²), thửa đất số 119, tờ bản đồ số 29 do UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 869138 ngày 16/10/2014 mang tên Ngô Huy B tại địa chỉ tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Trong diện tích 335,8m², thửa đất số 40, tờ bản đồ 29 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có diện tích 50,2m², thửa đất số 41, tờ bản đồ 29 vì thửa đất này nằm dưới đường điện cao thế của Nhà nước nên không được cấp bìa đỏ. Năm 1995, bà có xây hàng rào ngăn cách giữa 02 thửa đất 40 và 41, tờ bản đồ 29 và trên thửa đất 41 còn có 02 ngôi mộ đã mất nấm. Trong quá trình sử dụng đất bà có kê khai thửa đất số 41 nhưng không nhớ rõ chính xác năm nào. Hàng năm, cơ quan thuế có gửi biên lai thuế đất về khu và bà vẫn nộp thuế đất đầy đủ nhưng không rõ là có thửa đất số 41, tờ bản đồ 29 hay không. Bà chỉ biết hiện nay trong sổ mục kê do UBND phường T quản lý thì thửa đất số 41 là đứng tên bà. Nay bà Nguyễn Thị M khởi kiện cho rằng thửa số 41 là của bà M, quan điểm của bà không đồng ý vì đây là đất của bà.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Ngô Huy B trình bày: Theo anh được biết năm 1994 mẹ anh là Lương Thị Kim T1 có mua của bà Nguyễn Thị T4 một thửa đất trên đất có nhà cấp 4 và cây cối hoa màu tại tổ A, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Đến năm 2014 mẹ anh đã tách cho anh thửa đất số 119 tờ bản đồ số 29, diện tích 155,1m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 869138 do UBND dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 16/10/2014 đứng tên anh là Ngô Huy B. Thửa đất anh được cấp giáp ranh với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 29 là thửa đất đang tranh chấp. Theo anh được biết từ khi mẹ anh mua thửa đất của bà Nguyễn Thị T4 do thửa đất số 41, tờ bản đồ số 29 nằm dưới đường điện cao thế nên nhà anh chưa làm được bìa đỏ. Năm 2014, mẹ anh có tách cho anh thửa đất số 119, tờ bản đồ số 29 do chưa có điều kiện nên mẹ anh chưa làm được. Nay bà M nhận là đất của bà và xảy ra tranh chấp, anh khẳng định đây là mảnh đất của mẹ anh đã mua. Anh đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho mẹ anh và bác đơn của bà M.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ do ông Hoàng T3 là đại diện theo ủy quyền trình bày: UBND phường T đã nhận được đơn đề nghị của bà Nguyễn Thị M - Đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Tiến T đề nghị xác định thửa đất số 41, tờ bản đồ số 29, diện tích 50,2m² tại tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là của hộ bà M. Trong số mục kê mang tên chủ sử dụng là Lương Thị T1. UBND phường đã tổ chức cuộc họp hòa giải giữa bà M và bà T1 vào ngày 27/3/2024 nhưng hai bên gia đình không thỏa thuận, thống nhất được với nhau, có sự tranh chấp về thửa đất. Ngày 19/4/2024 và ngày 10/5/2024, UBND phường T đã tổ chức buổi họp hòa giải mời bà Nguyễn Thị M và bà Lương Thị Kim T1, cùng các ông bà biết rõ nguồn gốc đất tham dự nhưng bà T1 không đến dự họp. Tại buổi họp ngày 19/4/2024, các ông bà biết rõ nguồn gốc của thửa đất có mặt tham gia buổi họp, đã có ý kiến nguồn gốc thửa đất là của gia đình bà Nguyễn Thị M. Quan điểm của UBND phường T là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với sổ mục kê UBND phường T có quan điểm như sau: Sổ mục kê năm 1996, hiện nay UBND phường T đang lưu giữ, có thể hiện thửa đất số 41, tờ bản đồ số 29, diện tích 50,2m², địa chỉ thửa đất tổ A, khu Đ, phường T mang tên bà Lương Thị T1. Thời điểm đó do cán bộ đo đạc thực hiện việc đo đạc chung cho tất cả các hộ dân trên toàn phường và tự ghi tên chủ sử dụng là bà Lương Thị T1 vào sổ mục kê. Năm 2002 Nhà nước chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng loạt, Hội đồng xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phường T chỉ xem xét, cấp giấy chứng nhận cho bà T1 tại thửa đất số 40, tờ bản đồ số 29 mà không xem xét, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T1 đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ 29. Lý do bà T1 không phải là người quản lý và sử dụng thửa đất này. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xác minh và lấy ý kiến của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại khu dân cư mà biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ 29, diện tích 50,2m², địa chỉ thửa đất tổ A, khu Đ, phường T để làm căn cứ giải quyết theo quy định pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ do ông Nguyễn Thành T2 là đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà Lương Thị Kim T1 đã được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số AB 220676 ngày 22/12/2004, thửa đất số 40, tờ bản đồ 29, diện tích 335,8m² (trong đó có 256m² đất ở, 79,8m² đất vườn). Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng của hộ bà Nguyễn Thị T4 ngày 25/3/1994. Theo bản đồ địa chính 1996: Thửa đất số 41, tờ bản đồ số 29, diện tích 50,2m², ký hiệu T là thửa đất tiếp giáp với thửa đất số 40, tờ bản đồ 29 của bà Lương Thị Kim T1. Theo sổ mục kê 1996, chủ sử dụng đất kê khai là bà Lương Thị T1. Nay bà Nguyễn Thị M đề nghị bà T1 trả lại diện tích đất trên cho bà M, UBND thành phố V đề nghị Tòa án căn cứ quá trình sử dụng đất xác minh chủ sử dụng đất hợp pháp của thửa đất theo quy định. Sau khi có kết quả giải quyết, UBND thành phố V sẽ thực hiện các nội dung của bản án theo quy định của pháp luật.
Những người làm chứng trình bày:
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024 ông Nguyễn Văn T6 trình bày: Ông là hàng xóm với bà M và bà T1. Từ nhỏ ông được sinh ra và lớn lên ở xóm Đ (nay là khu Đ), phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ông làm trưởng khu Đoàn Kết từ năm 1982 đến 2004. Thửa đất số 41, tờ bản đồ 29 ở khu Đ, phường T đang tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị M và bà Lương Thị Kim T1 ông biết rất rõ đây là thửa đất của gia đình bà Nguyễn Thị M. Cạnh thửa đất và tiếp giáp với thửa đất của bà M ở phía bên trong là của ông Nguyễn Văn H1 (anh trai chồng bà M - ông H1 đã chết), bán lại cho bà D, bà D bán lại thửa đất trên cho ông bà T5 Lại. Sau đó ông bà T5 Lại bán cho bà T4, đến năm 1994 bà Nguyễn Thị T4 bán lại thửa đất trên cho bà Lương Thị Kim T1. Thời ông là trưởng khu việc mua bán đất rất chặt chẽ và phải có giấy tờ mua bán viết tay, việc mua bán đất ở trong khu, những người mua bán đất phải là những người tử tế. Năm 1994, ông có xác nhận vào giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu ngày 15/3/1994 giữa bên bán là bà Nguyễn Thị T4 và bên mua là bà Lương Thị Kim T1. Ông khẳng định bà T4 bán đất cho bà T1 không có diện tích thửa đất đang tranh chấp mà thửa đất đang tranh chấp là của bà M từ xưa cho đến nay. Giữa hai thửa đất của bà T4 bán cho bà T1 và của bà M có ranh giới rõ ràng bằng bờ rào trồng cây duối và các cây bụi. Ông thấy bà M hàng năm vẫn trồng khoai, sắn và hoa màu trên thửa đất này vì bên dưới hành lang điện cao thế không trồng được cây lâu năm và cũng không được xây dựng các công trình trên đất. Ông được biết trên thửa đất của bà M có 02 ngôi mộ là hàng xóm của bà M nhưng đã được chuyển đi từ lâu rồi. Tại biên bản lấy lời khai Tòa án có hỏi: Ông có biết tại sao trong giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu ngày 15/3/1994 có sơ đồ tổng thể khu mặt bằng nhà ở vẽ hình chữ nhật và ghi phía đông giáp nhà ông L2, phía nam giáp nhà ông H, phía tây giáp nhà ông C và phía bắc giáp đường đi. Trong sơ đồ này không thể hiện phía Bắc giáp với thửa đất của bà M đang tranh chấp? Ông T6 trình bày: Sơ đồ tổng thể khu mặt bằng nhà ở và cây cối hoa màu không thể hiện đúng hiện trạng của thửa đất bà T4 bán cho bà T1. Ông chỉ xác nhận đối với nội dung giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu bà T4 bán cho bà T1 diện tích là 256m² với giá 16.000.000₫ (Mười sáu triệu đồng chẵn) ở phía trên chữ ký, chữ viết của ông. Còn bản vẽ này không đúng với thực tế và hiện trạng lại được vẽ phía dưới và sau chữ ký chữ viết ông xác nhận nên ông khẳng định sơ đồ tổng thể khu mặt bằng nhà ở trong giấy mua bán này là không đúng và được vẽ sau khi có xác nhận và chữ ký của ông nên ông không đồng ý với sơ đồ này do không thể hiện đúng với hiện trạng và thực tế các hộ sử dụng.
Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024 ông Nguyễn Hoài T7 trình bày: Ông là hàng xóm với bà M và cũng là hàng xóm với bà T1. Hiện ông đang sinh sống tại tổ A, khu Đ, phường T. Ông nguyên là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 1989-1994. Trong giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu ngày 15/3/1994 giữa bên bán là bà Nguyễn Thị T4 và bên mua bà Lương Thị Kim T1 ông có ký dưới dòng chữ ngày 25/3/1994 trong giấy mua bán trên là đúng chữ ký của ông còn nội dung UBND phường T xác nhận chị Nguyễn Thị T4 có nhà trên diện tích 256m² đất chuyển nhượng cho chị Lương Thị Kim T1 là do cán bộ địa chính ghi. Trong bản sơ đồ tổng thể khu đất mặt bằng nhà ở của giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu có vẽ ô đất bà T4 bán cho bà T1 là hình chữ nhật và phía bắc giáp đường đi không thể hiện có ô đất của bà M đang tranh chấp. Với giấy tờ mua bán này thì phần xác nhận nội dung là đúng còn đối với sơ đồ mặt bằng tổng thể có sau khi ông ký là không có giá trị pháp lý. Về nguyên tắc giấy tờ mua bán nhà đất, sơ đồ nhà và đất phải có trước chữ ký của người làm chứng, tổ trưởng, khu dân cư, UBND xã phường nơi có nhà và đất chuyển nhượng. Với tư cách nguyên là Chủ tịch UBND phường T nhiệm kỳ 1989-1994, đồng thời ông cũng được sinh ra và lớn lên ở đây từ nhỏ ông biết về nguồn gốc thửa đất tranh chấp là của bà M quản lý từ trước cho đến nay để trồng hoa màu mà không tranh chấp với ai.
Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024 ông Nguyễn Tiến K1 trình bày: Ông là hàng xóm với bà M và bà T1. Ông nguyên là trưởng ban công tác mặt trận khu dân cư Đoàn Kết từ năm 2000 đến 2004 và nguyên là trưởng khu dân cư khu Đ, phường T từ tháng 01/2004 đến tháng 3/2021. Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp số 41, tờ bản đồ 29 tại khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là của bà Nguyễn Thị M quản lý và sử dụng từ trước cho đến nay. Bà M sử dụng thửa đất này dưới hành lang điện cao thế nên chỉ trồng sắn, khoai, hoa màu chứ không xây dựng công trình hay trồng cây lâu năm. Tháng 4/2010 ông đại diện cho khu dân cư kéo đường điện ba pha về nhà văn hóa của khu có xin phép bà M chôn 01 cột điện chữ H vào diện tích đất của bà M và được bà đồng ý, hiện nay cột điện chữ H và đường dây điện vẫn đang sử dụng và năm 2011 với tư cách là đại diện cho khu dân cư cải tạo cống rãnh và mở rộng đoạn đường dân cư tiếp giáp với ô đất của bà M. Về phần cống rãnh là làm bên phía nghĩa trang của khu Đoàn K và mở rộng đường về phần đất của bà M. Ông có đại diện khu dân cư đến xin phép bà M được mở rộng đường sang phần đất của bà (phần đất đang tranh chấp) với chiều ngang lấn vào khoảng 50cm đến 60cm, chiều dài chạy hết thửa đất của bà M và được bà M đồng ý. Với tư cách nguyên là trưởng khu từ tháng 01/2004 đến tháng 03/2021, ông cũng sinh ra và lớn lên ở đây từ nhỏ ông khẳng định thửa đất đang tranh chấp là của bà M quản lý và sử dụng từ trước cho đến nay mà không phải của bà T1.
Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024 ông Nguyễn Trọng X trình bày: Ông là hàng xóm với bà M và cũng là hàng xóm với bà T1. Từ nhỏ ông được sinh ra ở xóm Đ (nay là khu Đ) phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Nhà ông đối diện với thửa đất của bà M hiện đang tranh chấp với bà T1, về nguồn gốc thửa đất từ bé đến lớn ông đã thấy bà M trồng sắn và hoa màu, bà M sử dụng canh tác như hiện trạng. Năm 1994, ông được biết bà T1 mua lại đất ở phía sau tiếp giáp với đất của bà M, giữa nhà bà T1 và nhà bà M có 01 hàng rào cây duối và cây ô dô ngăn cách giữa 02 thửa đất và sau này ông thấy bà T1 xây bằng tường gạch ngăn cách giữa 02 thửa đất này. Từ trước tới nay ông chưa hề thấy có sự tranh chấp giữa bà M với ai thửa đất này.
Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024 của ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông là con trai ông Nguyễn Văn H1 và là cháu ruột của chồng bà M, ông gọi bà M là bà thím và là hàng xóm với bà T1. Ông sinh ra và lớn lên ở đây, là người gốc ở đây. Ông biết nguồn gốc đất thửa đất số 41, tờ bản đồ 29 ở tổ A, khu Đ, phường T là do ông nội ông là Nguyễn Văn T12 cho bà M quản lý và sử dụng để trồng cây cối, hoa màu và không có tranh chấp với ai. Ông ngạc nhiên khi bà Lương Thị Kim T1 về mua đất của bà Nguyễn Thị T4 mà lại nhận phần đất của bà M là của bà T1 là không đúng sự thật vì 02 thửa đất này là 02 thửa riêng biệt, rõ ràng trước kia có ngăn cách bằng hàng rào cây duối và các cây bụi khác rất dày không thể chui qua được. Sau khi mua đất, bà T1 tự ý chặt hết hàng rào bằng cây cối và xây hàng rào bằng tường gạch từ đó cho đến nay và hiện trạng đất vẫn là 02 ô đất tách biệt không thay đổi. Khoảng năm 1955 đến năm 1978, hộ ông có sử dụng thửa đất thổ cư với hộ bà M, sau có thống nhất bán một phần diện tích khoảng dưới 300m² đất cho bà D, phần diện tích còn lại khoảng 50m2 đến 80m² phía bắc giáp đường giao thông, diện tích đất này hộ bà M toàn quyền sử dụng từ năm 1955 đến nay không tranh chấp với ai. Những năm đầu bà D sử dụng đường đi bên trong miếng đất của bà M, bà D có đi nhờ qua đất bà M ở đầu trên giáp bờ rào nhà bà K2, về sau chuyển đường đi về dưới là đường đi bây giờ vẫn là qua đất của bà M.
Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024 của ông Phạm Văn T8 trình bày: Ông là hàng xóm với bà M và là hàng xóm với bà T1. Năm 2000, ông chuyển từ Tuyên Quang về tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ sinh sống. Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp từ khi chuyển đến ông đã thấy bà Nguyễn Thị M trồng trọt hoa màu cho đến nay, trên đất bà M còn trồng cấy vối, hàng xóm thời gian đầu có đến xin bà M hái lá để uống nước nhưng sau này do thói quen mọi người vẫn hái lá để sử dụng đun nước uống và bà M đồng ý cho, không có ý kiến gì.
Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024 của ông Nguyễn Kim T10 trình bày: Ông là hàng xóm với bà M và là hàng xóm với bà T1. Ông sinh ra và lớn lên ở đây và hiện tại ông đang là trưởng khu Đ, phường T nên ông biết rõ nguồn gốc thửa đất này là của bà M, bà M thường xuyên trồng trọt cây cối, hoa màu từ trước cho đến nay còn đất của bà T1 mua lại của bà T4 nay bà T1 lại nói mảnh đất bên ngoài bà M sử dụng và trồng trọt là đất của bà T1 là không đúng sự thật.
Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024 của ông Nguyễn Kim T9 và ông Nguyễn Tiến N đều trình bày: Các ông là hàng xóm với bà M và bà T1 được sinh ra và lớn lên ở khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Đối với nguồn gốc thửa đất số 41, tờ bản đồ 29 ở tổ A, khu Đ, phường T các ông chứng kiến và xác nhận mảnh đất phía ngoài là của bà M sử dụng trồng cây và hoa màu từ trước cho đến nay.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2024 của bà Lê Thị D trình bày: Trước kia bà là hàng xóm với bà M. Khoảng năm 1974, bà có mua cây cối hoa màu cùng với thửa đất của ông Nguyễn Văn H1 diện tích 256m² ở xóm Đ (nay là khu Đ), phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi mua đất vợ chồng bà đã về đấy ở và sinh sống. Thửa đất lúc bấy giờ xung quanh là bờ rào giáp với các hộ dân được ngăn cách bằng cây duối, cây mây và các cây bụi. Khi bà mua đất về đấy ở, hướng đông (đằng trước nhà) giáp với ruộng, hướng nam giáp nhà ông H (con trai ông H1), hướng tây (đằng sau nhà) là một vườn hồng do nhà ông H1 trồng, phía bắc giáp đất vườn của bà M, sau ô đất của bà M là ra đến đường cái. Cổng từ đường cái vào nhà bà lúc bấy giờ phía bên tay phải là giáp với vườn hồng đất nhà ông H1 (nay là đất nhà bà V), bên tay trái là giáp với đất của bà M, chiều dài cổng từ đường cái vào nhà bà khoảng 07m đến 10m, chiều rộng khoảng hơn 01m. Năm 1974, sau khi mua đất của ông H1 thì vợ chồng bà làm 01 ngôi nhà lợp mái cọ, tường bằng đất trộn với rơm. Năm 1979, vợ chồng bà mới làm ngôi nhà 05 gian bằng gạch chín, lợp ngói xi măng, đào giếng và xây 01 bức tường bằng gạch đằng trước nhà (hướng đông). Sau khi làm nhà xong thì do cổng hướng thẳng vào nóc nhà nên bà nghĩ theo phong thủy không tốt vì vậy bà đã muốn thay đổi cổng đi nên đã đến gặp bà Nguyễn Thị M là người có thửa đất giáp ranh với đất nhà bà để xin chuyển cổng và bà M nhất trí cho bà chuyển cổng xuống phía dưới đi qua phần đất của bà M canh tác. Hiện trạng cổng đi vẫn giữ như bây giờ nhưng về chiều rộng của cổng khi bà đổi của bà M chỉ rộng khoảng hơn 1,3m. Khi đổi đất giữa bà và bà M chỉ nói miệng với nhau không có giấy tờ gì. Bà đổi cổng đi năm 1979 và có cho bà M 02 bao xi măng. Khi bà mua đất của ông Nguyễn Văn H1 có giấy viết tay với nhau và bà có trả tiền cho ông H1 là 35đ (Ba mươi lăm đồng), sau đó bà bán lại cho ông bà T5 Lại nên bà không còn lưu giữ lấy tờ mua bán. Bà mua đất của ông H1 là đất của ông H1, không có ô đất của bà M, đất bà M canh tác nên bà không liên quan đến. Giữa hai ô đất lúc bấy giờ có hàng rào bằng cây duối to, các cây gai và búi mây, hai ô đất này riêng biệt không liên quan đến nhau. Khi bà về đó ở đất bà mua bà sử dụng còn đất của bà M thì bà M sử dụng, hàng ngày bà M vẫn đến ô đất đó canh tác trồng sắn, hoa màu. Bà vẫn thường xuyên ra nói chuyện với bà M và xem bà trồng trọt, thu hoạch hoa màu. Đất của bà M là ô đất giáp với đất bà mua của ông H1 và giáp với đường cái. Khoảng năm 1988 hoặc 1989 bà có bán lại nhà và đất diện tích 256m² cùng cây cối trên đất cho ông bà Thu L1 với số tiền là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng). Khi bán đất có giấy tờ viết tay nhưng bà không còn lưu giữ, bà chỉ bán phần đất bà mua của ông H1, còn đất của bà M canh tác là của bà M, bà không liên quan đến. Hai ô đất của bà và bà M tách biệt nhau hoàn toàn và ngăn cách bằng hàng rào cây duối to, cây gai, cây mây như bà đã trình bày. Khi bà mua đất của ông H1 và bán lại cho ông bà Thu L1 thì ô đất không vuông vắn, bà mua đất của ông H1 như thế nào thì bà bán lại ông bà Thu L1 như vậy, chỉ khác khi bà bán cho ông bà Thu L1 thì trên đất có nhà và các công trình như nhà bếp, giếng, chuồng lợn...và cổng đi cũng thay đổi, lúc đầu khi bà mua của ông H1 là cổng đi phía trên đất nhà bà M (giáp với vườn hồng ông H1, nay giáp nhà bà V), sau đó bà đổi cổng thì cổng đi xuống phía dưới đất nhà bà M (nay giáp nhà bà C1). Bà D trình bày hiện nay do bà đã cao tuổi nên bà xin được vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử khác của Tòa án. Bà cam đoan lời khai trên là đúng sự thật, bà giữ nguyên lời khai không thay đổi gì.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 26/6/2024 của ông Nguyễn Văn L và bà Lê Thị T5 trình bày: Năm 1989, vợ chồng ông bà có mua thửa đất của bà D có diện tích 256m² tại tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ông bà mua thửa đất này và về ở được hơn một năm thì bán lại cho bà Nguyễn Thị T4. Khi ông bà mua đất của bà D từ ngoài đường cái đi vào cổng để vào nhà có một khoảng đất trống phía bên tay phải của cổng đi, bây giờ hiện trạng vẫn đúng như vậy không thay đổi. Trên thửa đất trống này có ngôi mộ nhưng ông bà không biết là của ai. Thửa đất ông bà mua của bà D và thửa đất trống này cách nhau bằng hàng rào cây duối. Ông bà mua đất của bà D nhưng không có thửa đất ở bên ngoài tính từ hàng rào duối trở ra. Ông bà ở đây hơn một năm nhưng không biết đất đó là của bà M chỉ đến sau này thì ông bà mới biết. Khi ông bà mua đất do thửa đất bên ngoài không phải của ông bà nên ông bà không sử dụng và không liên quan đến thửa đất đó. Đến khi ông bà bán cho bà T4 cũng đúng như hiện trạng nhà và đất ông bà mua của bà D và cũng không có thửa đất phía bên ngoài vì đất đó không phải của vợ chồng ông bà. Ông bà cam đoan lời trình bày như trên là đúng sự thật, do vợ chồng ông bà đã có tuổi nên xin được vắng mặt không đến Tòa án trong các phiên họp, các phiên xét xử vụ án, vợ chồng ông bà giữ nguyên lời khai như trên không thay đổi gì.
Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024 bà Nguyễn Thị T4 trình bày: Bà là hàng xóm với bà M và bà T1 và có nhà và đất bán cho bà T1. Hiện tại bà sinh sống tại tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Khoảng năm 1984, lúc đó bà còn nhỏ có cùng với bố mẹ chuyển về ở tổ A, khu Đ, phường T. Đến năm 1990, bà có mua nhà và đất của ông bà T5 Lại diện tích 256m² tại tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trên thửa đất bà mua của ông bà T5 Lại có ngôi nhà cấp bốn 5 gian, giếng, bếp, sân và cây cối lâm lộc xung quanh. Phía cổng đi từ nhà ra đến đường giao thông phải đi qua ô đất của bà M, chiều rộng cổng khoảng 01m, chiều dài khoảng từ 05m đến 07m, ô đất của bà phía bắc giáp ranh với ô đất của bà M được ngăn cách bằng hàng rào trồng cây duối, cây gai rất dày dặn và chắc chắn. Bà chỉ sử dụng phần đường đi vào ô đất của bà M có từ trước đó còn phần đất của bà M sử dụng canh tác thì hàng ngày bà thấy bà M đến trồng sắn, khoai và hoa màu khác cho đến tận bây giờ. Năm 1994, bà đã bán cho bà T1 thửa đất mà bà đã mua của ông bà T5 Lại diện tích 256m² với giá 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng). Việc mua bán này có giấy tờ viết tay nhưng hiện nay bà không còn lưu giữ giấy tờ. Khi bà bán nhà và đất cho bà T1 không có ô đất của bà M, vì đó là đất của bà M đang sử dụng không liên quan đến thửa đất của bà nên bà không có quyền bán. Khi bán đất cho bà T1 bà có chỉ ranh giới phía đông, phía nam, phía tây, riêng ranh giới phía bắc giáp với thửa đất bà M quản lý và sử dụng, bà có chỉ từ bờ rào cây duối hắt vào phía trong đất của bà. Tòa án có hỏi: Bà có biết tại sao trong giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu ngày 15/3/1994 có sơ đồ tổng thể khu mặt bằng nhà ở vẽ hình chữ nhật và ghi phía đông giáp nhà ông L2, phía nam giáp nhà ông H, phía tây giáp nhà ông C và phía bắc giáp đường đi. Trong sơ đồ này không thể hiện phía Bắc giáp với thửa đất của bà M đang tranh chấp? Bà T4 trả lời: Sau khi giữa bà và bà T1 thống nhất nội dung mua bán nhà và cây cối thì bà ký vào bên bán và bên mua là bà T1 ký còn sơ đồ này do ai vẽ thì bà không biết nhưng vẽ không đúng hiện trạng bà đã bán đất cho bà T1. Bà chỉ biết khi bà về ở trên thửa đất bà bán cho bà T1 thì bà M là người quản lý và sử dụng thửa đất nêu trên.
Ngày 02/7/2024: Tòa án đã tiến xem xét thẩm định tại chỗ và định giá đối với thửa đất tranh chấp xác định: Phía bên trong thửa đất giáp với thửa đất của bà Lương Thị Kim T1 và anh Ngô Huy B có một bức tường bằng gạch xỉ do bà T1 xây dựng năm 1995; bên phải thửa đất giáp với hộ bà Cao Thị V có một bức tường xây bằng gạch chỉ do hộ bà V xây năm 2009; phía bên tay trái của thửa đất giáp với cổng đi của hộ bà Lương Thị Kim T1, cổng đi này do bà T1 đổ bê tông năm 1995 và năm 2024 có đổ thêm bê tông để mở rộng cổng. Trên thửa đất tranh chấp có 04 cây vối. Phía góc phải thửa đất nhìn từ đường giao thông vào có một cột điện chữ H chạy đường điện 3 pha của khu và một cột điện tròn. Ngoài ra trên đất không có xây dựng công trình gì khác. Hội đồng định giá đất ở đô thị tại vị trí nêu trên là 3.000.000đ/01m²; giá đất trồng cây lâu năm là 41.000đ/01m².
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Toà án Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã:
Căn cứ Điều 26, 138, khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 158, 165, 166, 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với bà Lương Thị Kim T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Công nhận bà Nguyễn Thị M được quyền sử dụng, định đoạt đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ 29, diện tích 50,2m² (theo sổ mục kê năm 1996 của UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và bản đồ hệ tọa độ VN 2000 số 29 năm 1996 thể hiện loại đất T) tại địa chỉ thửa đất: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Buộc bà Lương Thị Kim T1 phải trả lại cho bà Nguyễn Thị M thửa đất số 41, tờ bản đồ 29, diện tích 50,2m² (theo sổ mục kê năm 1996 của UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và bản đồ hệ tọa độ VN 2000 số 29 năm 1996 thể hiện loại đất T) tại địa chỉ thửa đất: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ theo các chỉ giới 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 1. (Có Bản trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
- Bà Nguyễn Thị M có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền đề nghị thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, bà Lương Thị Kim T1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
Quá trình xét xử phúc thẩm bà M có đơn đề nghị cấp phúc thẩm xác minh lại thực tế, kết luận phù hợp một cách khách quan, công tâm để bảo vệ quyền và lợi ích cho gia đình bà tiếp tục xử dụng hợp pháp và làm thủ tục ghi tên bà nộp thuế cho nhà nước.
Tại phiên toà, bà Lương Thị Kim T1 giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo lý do: Xem xét lại hồ sơ giấy tờ mua bán của bà đã có giấy chứng nhận của của địa phương; một số người làm chứng trong vụ án có quan hệ anh em với gia đình bà M; Tòa sơ thẩm nhận định sổ mục kê đứng tên bà từ năm 1996 nên bà có quyền quản lý theo đúng sơ đồ bà mua. Đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu câu của bà M.
Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Người làm chứng như bà Lê Thị D trình bày: Khoảng năm 1975 bà có mua thửa đất của ông Nguyễn Văn H1 nhà và đất có diện tích là 256m2, thửa đất này nằm ở phí bên trong, thửa đất đang tranh chấp nằm ở phía bên ngoài do bà M sử dụng bà không rõ bao nhiệu mét vuông, sau đó bà bán lại cho bà T5; phí bà Nguyễn Thị T4 trình bày khoảng năm 1989-1990 bà có mua thửa đất của bà T5 có diện tích 256m2, trên đất có nhà, có ranh gới là hàng cây. Năm 1994 bà T4 bán lại cho bà T1 theo nguyên trạng, phái bên ngoài là đất của bà M sử dụng trồng cây cối mà hiện nay bà M đang sử dụng; ông Nguyễn Hoài T13 bày ông là hàng xóm với hai bên, ông xác nhận ông có xác nhận nội dung trong giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu giữa bà M và bà T1 năm 1994, đối với sơ đồ trong giấy mua bán chuyển nhượng là làm sau ông không biết nội dung này, ông sinh ra và lớn lên ở đây, nguần gốc thửa đất đang tranh chấp là của bà M quản lý từ trước cho đến nay trồng hoa màu không có tranh chấp với ai.
Ông Nguyễn Văn H trình bày ông là co trai của ông Nguyễn Văn H1 là cháu ruật của chồng bà M, nguần gốc thửa đất tranh chấp là ông N1 ông cho bố ông và bà M sử dụng, sau này phần đất của bố ông bán cho bà D, phần còn lại là của bà M, mảnh đất bố ông bán cho cho D đã được mua bán với nhiều người, bà T1 là người mua cuối cùng, bà T1 đã xây tường ngăn cách. Ông xác định phần đất này là của bà M.
Ông Nguyễn Trọng X trình bày: Ông sinh ra lớn lên ở đây, không có anh em gì đối với hai bên, nhà ông đối diện với thửa đất nhà bà M, ông thấy bà my trồng sắn và hoa màu, năm 1994 bà T1 mua lại phía sau tiếp giáp voiws đất của bà M, giữa đất bà M và đất bà T1 có hàng rào cây duối, ô dô ngăn cách, sau này bà T1 xây tường ngăn cách hai thửa đất, ông chưa thấy ai tranh chấp với bà M.
Ông Ông Phạm Văn T8, ông Nguyễn Kim T9 và ông Nguyễn Tiến N đều thừa nhận các ông là hàng xóm với bà M và bà T1, các ông sinh ra lớn lên tại đâycác ông đều xác nhận thửa đất đang tranh chấp giữa bà M và bà T1 là của bà M sử dụng từ trước cho đến nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Phát biểu về quan điểm nội dung vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lương Thị Kim T1. Giữ nguyên Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Bà Nguyễn Thị M có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền xem xét câp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có đủ điều kiện.
Do bà thoa là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm (có bài phát biểu chi tiết kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về hình thức đơn kháng cáo của bà Lương Thị Kim T1 làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Sự có mặt của đương sự. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/QĐXXPT-DS ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa vào hồi 08 giờ ngày 06/01/2025, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố V và đại diện theo ủy quyền của UBND phường T, thành phố V vắng mặt. Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và ấn định tại mở phiên tòa vào hồi 08 giờ ngày 05/02/2025, tại phiên tòa ngày 05/02/2025 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố V và đại diện theo ủy quyền của UBND phường T, thành phố V vắng mặt; bà Lương Thị Kim T1 có đơn xin hoãn phiên tòa, Hội đồng xét xử ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định mở lại phiên tòa vào hồi 08 giờ ngày 05/3/2025. Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố V và đại diện theo ủy quyền của UBND phường T, thành phố V và một số người làm chứng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét về nội dung kháng cáo của bà Lương Thị Kim T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp theo lời khai của bà Nguyễn Thị M cho rằng thửa đất số 41, tờ bản đồ 29, diện tích 50,2m² tại địa chỉ tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ do bố mẹ chồng bà sử dụng từ năm 1954, bố mẹ chồng bà có cho ông Nguyễn Văn H1 là anh trai chồng thửa đất ở phía trong, thửa đất này ông H1 đã bán cho bà D, bà D bán cho ông bà Thu L1, ông bà T5 Lại bán cho bà T4 và bà T4 bán cho bà T1, còn phần đất bên ngoài thì bà sử dụng từ năm 1955 đến nay, vì thửa đất nằm dưới hành lang điện cao thế nên bà không được phép xây dựng gì mà chỉ trồng trọt cây cối hoa màu.
Bà Lương Thị Kim T1 cho rằng: Ngày 13/5/1994 tại Giấy tờ mua bán nhà và cây cối hoa màu, bà có mua của bà Nguyễn Thị T4 một ngôi nhà cấp 4, lợp ngói xi măng và 03 gian bếp cùng toàn bộ cây cối ăn quả, hoa màu xung quanh có tổng diện tích là 256m² đất ở tổ A, phố Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ với số tiền là 16.000.000đ.
Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của bà D, vợ chồng bà T5, ông L1, bà T4 là những người chủ trước của thửa đất mà bà T1 hiện đang sinh sống và được những người này đều xác định thửa đất số 41, tờ bản đồ 29 là của bà M, bà M là người trực tiếp sử dụng, quản lý từ năm 1955 đến nay. Giữa thửa đất của bà M và thửa đất của bà T1 được ngăn cách bởi bờ rào bằng cây duối, cây mây và các cây bụi khác rất dày dặn, đây là hai thửa đất tách biệt. Sau này bà T1 mua đất của bà T4, bà T1 đã phá bỏ hàng rào để xây tường rào bằng gạch xỉ. Những người hàng xóm sinh sống cùng thời điểm với bà M, bà T1 như ông T6, ông K1, ông X, ông H, ông N, ông T10, ông T7 đều chứng kiến và khẳng định thửa đất số 41, tờ bản đồ 29 là của bà M hiện là người quản lý, sử dụng và đang trồng cây cối trên đất. Phía bà T1 cho rằng Giấy tờ mua bán nhà và cây cối hoa màu ngày 15/3/1994, phần sơ đồ tổng thể khu mặt bằng nhà ở có thể hiện: Đông giáp nhà ông L2; Nam giáp nhà ông H; Tây giáp nhà ông C; B1: Đường đi nên không có đất của bà M ở đó và trong Giấy tờ mua bán có chữ ký của đại diện khu dân cư, chính quyền địa phương nên bà T1 khẳng định thửa đất số 41, tờ bản đồ 29 là của bà mua lại của bà T4. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà D, ông bà Thu L1, bà T4 là những chủ sử dụng trước đối với thửa đất của bà T1 đều có lời khai và khẳng định ô đất của các bên mua và bán lại cho nhau và bà T1 là người mua cuối cùng thì hiện trạng thửa đất như bà T1, anh B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không liên quan đến thửa đất của bà M canh tác sử dụng, điều này còn phù hợp với lời khai của những người làm chứng khác đều khẳng định thửa đất bà M vẫn sử dụng từ trước đến nay không phải đất của bà T1 nhưng theo ông Nguyễn Văn T6 nguyên là trưởng khu Đoàn Kết từ năm 1982 đến năm 2004 cho biết: Ông là người ký xác nhận vào phần “Tổ tưởng tổ A chứng nhận” trong Giấy tờ mua bán nhà và cây cối hoa màu ngày 15/3/1994 nhưng phần “Sơ đồ tổng thể khu mặt bằng nhà ở” không thể hiện đúng hiện trạng của thửa đất bà T4 bán cho bà T1. Ông chỉ xác nhận đối với nội dung giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu bà T4 bán cho bà T1 diện tích là 256m² với giá 16.000.000₫ (Mười sáu triệu đồng) ở phía trên chữ ký, chữ viết của ông. Còn bản vẽ này không đúng với thực tế và hiện trạng lại được vẽ phía dưới và sau chữ ký chữ viết ông xác nhận nên ông khẳng định sơ đồ tổng thể khu mặt bằng nhà ở trong giấy mua bán này là không đúng và được vẽ sau khi có xác nhận và chữ ký của ông nên ông không đồng ý với sơ đồ này do không thể hiện đúng với hiện trạng và thực tế các hộ sử dụng. Theo ông Nguyễn Hoài T7 nguyên là Chủ tịch UBND phường T nhiệm kỳ 1989 - 1994 trong giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu ngày 15/3/1994 giữa bên bán là bà Nguyễn Thị T4 và bên mua bà Lương Thị Kim T1 ông có ký dưới dòng chữ “ngày 25/3/1994" trong giấy mua bán trên là đúng chữ ký của ông còn nội dung “UBND phường T xác nhận chị Nguyễn Thị T4 có nhà trên diện tích 256m² đất chuyển nhượng cho chị Lương Thị Kim T1” là do cán bộ địa chính ghi. Trong bản sơ đồ tổng thể khu đất mặt bằng nhà ở của giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu có vẽ ô đất bà T4 bán cho bà T1 là hình chữ nhật và phía bắc giáp đường đi không thể hiện có ô đất của bà M đang tranh chấp. Với giấy tờ mua bán này thì phần xác nhận nội dung là đúng còn đối với sơ đồ mặt bằng tổng thể có sau khi ông ký là không có giá trị pháp lý. Về nguyên tắc giấy tờ mua bán nhà đất, sơ đồ nhà và đất phải có trước chữ ký của người làm chứng, tổ trưởng, khu dân cư, UBND xã phường nơi có nhà và đất chuyển nhượng. Như vậy Giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu ngày 15/3/1994 giữa bà T4 và bà T1 mặc dù các bên không cung cấp được bản chính hoặc bản sao công chứng nhưng do các bên đều thừa nhận đối với giấy mua bán này, như vậy căn cứ vào Giấy mua bán nhà và cây cối hoa màu ngày 15/3/1994; căn cứ vào lời trình bày của ông T7, ông T6, bà T4, bà D, bà T5, ông L1; quan điểm của UBND phường T thấy rằng: Tại tờ bản đồ 299 năm 1985, tờ bản đồ số 5 do UBND phường T cung cấp thì thửa đất của bà T4 bán cho bà T1 nằm trong thửa T395 (có nghĩa là diện tích 395m², loại đất T), khi đó trên bản đồ 299 đã thể hiện rõ diện tích thửa đất và vị trí thửa đất. Do vậy, nếu bà T1 cho rằng bà mua thửa đất của bà T4 bao gồm cả thửa số 41, tờ bản đồ 29 thì diện tích đất chuyển nhượng phải là 395m² chứ không phải là 256m² như trong giấy tờ mua bán đã ghi và đối với phần sơ đồ thửa đất phải được cán bộ địa chính phường hoặc người có thẩm quyền trích đo từ bản đồ 299 ra mới là đúng. Sơ đồ tổng thể khu mặt bằng nhà ở trong Giấy tờ mua bán đã không thể hiện đúng từ bản đồ 299 lại được mô tả bên dưới phần chữ ký của người có thẩm quyền và con dấu của cơ quan có thẩm quyền nên không có giá trị về mặt pháp lý đối với phần sơ đồ đó là có căn cứ. Ngoài ra khi bà T1 mua đất của bà T4 diện tích là 256m² và khi bà T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 2004 diện tích là 335,8m², tăng thêm 79,8m², điều đó chứng tỏ đất của bà T1 không bị thiếu mà còn tăng thêm diện tích. Theo như “Sổ mục kê” của UBND phường Tiên cát ghi người đứng tên thửa đất số 41 là “Lương Thị T1” không phải Lương Thị Kim T1. Tại biên bản phiên toà sơ thẩm cũng thể hiện bà T1 khẳng định từ trước đến nay bà T1 có tên họ đầy đủ là Lương Thị Kim T1. Đồng thời, UBND phương Tiên Cát cũng cung cấp hàng năm bà T1 không nộp thuế đất và cũng không ai nộp thuế đất cho thửa đất số 41 và không có hồ sơ lưu của bà T1 về việc kê khai thửa đất số 41;
Từ những phân tích nêu trên có đủ cơ sở để xác nhận bà T1 chỉ mua thửa 40 từ bà T4, còn thửa 41 từ năm 1955 đến hiện nay vẫn thuộc quyền sở hữu của bà M và do bà M trực tiếp quản lý, sử dụng. Việc Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của bà M là có căn cứ. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận đơn kháng cáo của bà T1.
Tuy nhiên sổ mục kê đứng tên bà Lương Thị T1, nay thửa đất này là của bà M nên đề nghị UBND thành phố V và UBND phường T điều chỉnh từ tên bà Lương Thị T1 sang bà Nguyễn Thị M.
Theo như phần Quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên: “2. Công nhận bà Nguyễn Thị M được quyền sử dụng, định đoạt đối với thửa đất số 41...” và “4. Bà Nguyễn Thị M có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật” là chưa đảm bảo mà phải tuyên: Công nhận bà Nguyễn Thị M được quyền sử dụng đối với thửa đất số 41... và bà Nguyễn Thị M có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Đây là sai sót nhỏ, Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà Lương Thị Kim T1, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
[4] Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bầy tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Lương Thị Kim T1 không được chấp nhận nhưng bà T1 là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhân kháng cáo của bà Lương Thị Kim T1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 44/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ Điều 26, 138, khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 158, 165, 166, 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với bà Lương Thị Kim T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Công nhận bà Nguyễn Thị M được quyền sử dụng đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ 29, diện tích 50,2m² (theo sổ mục kê năm 1996 của UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và bản đồ hệ tọa độ VN 2000 số 29 năm 1996 thể hiện loại đất T) tại địa chỉ thửa đất: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Buộc bà Lương Thị Kim T1 phải trả lại cho bà Nguyễn Thị M thửa đất số 41, tờ bản đồ 29, diện tích 50,2m² (theo sổ mục kê năm 1996 của UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và bản đồ hệ tọa độ VN 2000 số 29 năm 1996 thể hiện loại đất T) tại địa chỉ thửa đất: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ theo các chỉ giới 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 1. (Có Bản trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
- Bà Nguyễn Thị M có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Bà Lương Thị Kim T1 phải chịu 4.200.000₫ (Bốn triệu, hai trăm nghìn đồng) chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản. Xác nhận ông Nguyễn Tiến T là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M đã nộp đủ số tiền trên. Buộc bà Lương Thị Kim T1 phải nộp lại số tiền 4.200.000₫ (Bốn triệu, hai trăm nghìn đồng) để trả cho bà Nguyễn Thị M.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lương Thị Kim T1 được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lương Thị Kim T1 là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết kháng cáo và kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Toàn |
Bản án số 25/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 25/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà M và bà T
