TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
Bản án số :25/2024/DS-ST
Ngày : 10 tháng 9 năm 2024
Về việc: “Tranh chấp về đất đai”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG - NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ; Ông Thái Trường Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp.
- Bà Lê Thị Phượng.
-Thư ký phiên toà : Ông Nguyễn Xuân Tráng. Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 tháng 9 năm 2024, Tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2024/TLST – DS, ngày 19 tháng 2 năm 2024
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXX - DS ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1949; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
Người được bà N uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1991; nơi cư trú: Xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Ông Văn Đình T, sinh năm 1970; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Người được ông Văn Đình T uỷ quyền tham gia tố tụng và cũng là người có quyền lượi nghĩa vụ liên quan bà B Văn Thị Đ, sinh năm 1966; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và người đại diện cho nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N là bà Nguyễn Thị Thúy K trình bày như sau:
Ngày 15 tháng 9 năm 1997, bản thân bà Nguyễn Thị N được Nhà nước cấp cho thửa đất số 611, tờ bản đồ số 05, diện tích 429 m2, địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, mang tên Nguyễn Thị N.
Đến ngày 05 tháng 12 năm 2017, bản thân bà N đã làm đơn xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được nhà nước cấp đổi thửa đất 611, tờ bản đồ số 05 thành thửa đất số 47, tờ bản đồ 16, diện tích 706,2 m2, địa chỉ thửa đất: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An mang tên Nguyễn Thị N.
Quá trình sử dụng thì bản thân bà N sử dụng ổn định không tranh chấp với ai. Đến năm 2015, bà N phát hiện gia đình ông Văn Đình T đã lấn chiếm diện tích thửa đất nói trên về phía Nam, trong đó chiều rộng 1,7 m, chiều dài là 46,7 m. Tổng diện tích ông Văn Đình T lấn chiếm của bà N là 48,4 m2. Giá đất diện tích lấn chiếm là 35.000 đồng/m2. Tổng giá trị đất đang bị lấn chiếm là 1.687.000 đồng. Hiện nay trên diện tích đất lấn chiếm thì gia đình ông T đã xây dựng chuồng trại chăn nuôi.
Sau khi phát hiện diện tích đất bị ông T lấn chiếm thì bà N đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi yêu cầu ông T trả lại diện tích đất lấn chiếm nói trên nhưng ông T không chịu trả.
Sự việc tranh chấp đất đai giữa bà N và ông T đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T hoà giải nhưng không thành. Kết quả là ông Văn Đình T vẫn không chịu trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho bà N.
Bà N yêu cầu ông Văn Đình T phải tháo dỡ các công trình chăn nuôi trên diện tích đất lấn chiếm để trả lại cho bà T diện tích đất là 48,4 m2.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng là người được bị đơn ông Văn Đình T uỷ quyền tham gia tố tụng bà Văn Thị Đ trình bày:
Thửa đất bà đang sử dụng ổn định từ năm 1987 cho đến nay. Năm 2017 được ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 031364 vào ngày 05 tháng 12 năm 2017 đối với thửa đất số 3, tờ bản đồ số 19; diện tích 930,2m2. Quá trình đăng ký quyền sử dụng đất đã tự xác định mốc giới sử dụng và ký xác nhận.
Hiện nay gia đình vẫn sử dụng đúng phần diện tích đất được cấp. Chứ không hề có sự lấn chiếm nào.
Hiện nay ranh giới giữa 02 gia đình được xây dựng bằng bờ rào và chuồng trại chăn nuôi và đã xây dựng từ lâu.
Hiện nay thửa đất nảy chỉ có 02 vợ chồng Văn Đình T và bà Văn Thị Đ sử dụng ngoài ra không có ai.
Nay bà Nguyễn Thị N yêu cầu như vậy bà không nhất trí là không lấn chiếm đất của bà N.
Bà khẳng định phần đất gia đình đang sử dụng đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An dã cấp cho ông và bà. Nay bà N cho rằng tôi và ông T lấn chiếm 48m,42 của bà N và trả lại cho bà N 48m,42 tôi và ông T không lấn chiếm đất của bà N và không trả lại cho bà N.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét thấy qua xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất đang tranh chấp thì hiện nay phần diện tích đất mà bà Nguyễn Thị N được công nhận quyền sử dụng đất là 706m² đất. Qua tiến hành đô đạc thực tế theo mốc bà Nguyễn Thị N xác định tại thực địa thì hiện hay phần đất mà bà Nguyễn Thị N xác định tại thực địa đều nằm trên ranh gới bản đồ địa chính đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Văn Thị Đ và ông Văn Đình T. Cho nên khẳng định yêu cầu của bà Ngueyenx Thị N1 là không có căn cứ. Cho nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc đề nghị ông Văn Đình T và bà Văn Thị Đ trả lại 48,4m² đất.
Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận cho nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định và định giá tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp đất đai được quy định tại khoản 9, Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cú trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Cho nên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tiến hành thụ lý giải quyết là hoàn toàn phù hợp với Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà hôm nay bị đơn cũng như người có quyền lượi nghĩa vụ liên quan cũng là người được bị đơn uỷ quyền tham gia tố tụng vắng mặt. Nhưng đây là phiên toà mở lại lần thứ hai cho nên xét thấy việc xét xử vắng mặt bị đơn cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là hoàn toàn đúng với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Ngày 15 tháng 9 năm 1997, bản thân bà Nguyễn Thị N được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An cấp cho thửa đất số 611, tờ bản đồ số 05, diện tích 429 m2, địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, mang tên Nguyễn Thị N.
Đến ngày 05 tháng 12 năm 2017, bản thân bà N đã làm đơn xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được nhà nước cấp đổi thửa đất 611, tờ bản đồ số 05 thành thửa đất số 47, tờ bản đồ 16, diện tích 706,2 m2, địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An mang tên Nguyễn Thị N.
Quá trình sử dụng thì bản thân bà N sử dụng ổn định không tranh chấp với ai. Đến năm 2015, bà N phát hiện gia đình ông Văn Đình T đã lấn chiếm diện tích thửa đất nói trên về phía Nam, trong đó chiều rộng 1,7 m, chiều dài là 46,7 m. Tổng diện tích ông Văn Đình T lấn chiếm của bà N là 48,4 m2. Giá đất diện tích lấn chiếm là 35.000 đồng/m2. Tổng giá trị đất đang bị lấn chiếm là 1.687.000 đồng. Hiện nay trên diện tích đất lấn chiếm thì gia đình ông T đã xây dựng chuồng trại chăn nuôi.
Sau khi phát hiện diện tích đất bị ông T lấn chiếm thì bà N đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi yêu cầu ông T trả lại diện tích đất lấn chiếm nói trên nhưng ông T không chịu trả.
Sự việc tranh chấp đất đai giữa bà N và ông T đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T hoà giải nhưng không thành. Kết quả là ông Văn Đình T vẫn không chịu trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho bà N.
Bà N yêu cầu ông Văn Đình T phải tháo dỡ các công trình chăn nuôi trên diện tích đất lấn chiếm để trả lại cho bà T diện tích đất là 48,4 m2, còn vị đơn ông Văn Đình T và người có quyền lượi nghĩa vụ liên quan bà Văn Thì Đ1 cho rằng thửa đất hiện nay gia đình bà đang sử dụng đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đât vào ngày 05/12/2017 với phần diện tích được giao là 930,2 m² tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 19. Bản thân gia đình bà đã xây dựng bờ rào từ năm 1987 và sử dụng ổn định từ đó cho tới nay. Gia đình bà không hề có sự lấn chiếm đối với phần đất của bà Nguyễn Thị N cho nên việc bà Nguyễn Thị N yêu cầu gia đình bà trả lại 48, 4 m² là không có cơ sở nên bà không chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N yêu cầu ông Văn Đình T và bà Văn Thị Đ tháo dỡ các công trình đã xây dựng để trả lại 48,4m² đất tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 16 xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An là không có căn cứ bởi:
Thửa đất số 47, tờ bản đồ số 16 xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị N với phần diện tích đất được cấp là 706,2m².
Tại biên bản thẩm định và định giá tài sản ngày 07 tháng 6 năm 2024 thể hiện:
Sau khi bà Văn Thị Đ xác định ranh giới tiếp giáp với các gia đình liên quan trong đó có phần tiếp giáp với thửa đất của bà Nguyễn Thị N đang sử dụng đang sử dụng thì kết quả hiện nay bờ rào mà ông Văn Đình T và bà Văn Thị Đ đã xây dựng và sử dụng từ trước đến nay đều nằm trên đường chỉ giới theo bản đồ địa chính của thửa đất số 03, tờ bản đồ số 19 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Văn Đình T và bà Văn Thị Đ.
Điều đó thể hiện việc ông Văn Đình T và bà Văn Thị Đ đang sử dụng đúng phần diện tích đất đã được nhà nước giao quyền sử dụng cho ông và bà. Hơn nữa qua thẩm định hiện nay phần đất gia đình bà Nguyễn Thị N sử dụng tại thực địa không có sự thiếu hụt so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà
Cho N2 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ông Văn Đình T và bà Văn Thị Đ trả lại phần iện tích đất đã lấn chiếm là 48,4m².
[4] Xét ý kiến và yêu cầu của bị đơn ông Văn Đình T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Văn Thị Đ về việc không chấp nhận với yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc trả lại phần diện tích 48,4m² tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 16 xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, là có căn cứ.
[5] Xét ý kiến của Kiểm sát viên là hoàn toàn có căn cứ.
[6] Về án phí; chi phí định giá và thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận cho nên nguyên đơn phải chịu toàn bọ chi phí thẩm định và định giá tài sản.
Về án phí: Hiện nay nguyên đơn là người già trên 60 tuổi, có đơn yêu cầu miễn tiền án phí cho nên cần miễn án phí cho nguyên đơn theo quy định
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điều 26; Điều 35, Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai. Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ông Văn Đình T và bà Văn Thị Đ trả lại phần diện tích đất 48,4m² tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 16 xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Về án phí, chi phí định giá và thẩm định:
Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu số tiền chi phí thẩm định và định giá tài sản là 5.361.000 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền chi phí thẩm định và định giá đã nộp. Trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền còn lại là 4.658.700 đồng.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị N.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Trường Giang |
Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về đất đai
- Số bản án: 25/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Năm + Thìn
