TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/KDTM-PT
Ngày: 18/7/2024.
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trang
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung
Bà Hồ Thị Tuyết Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Bảo Trân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2024/TLPT- KDTM ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.
Do Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 31/2023/KDTM-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiểu, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 49/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ1.
Địa chỉ: Số C, đường H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Đức Đ, chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Hiếu T, sinh năm: 1996 (Có mặt) và Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1985 (Vắng mặt). (Theo văn bản ủy quyền số 277/2024/UQ-ĐV ngày 18/6/2024). Địa chỉ liên lạc: 234/32 H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn: Công ty Cổ phần T2.
Địa chỉ: KM7, đường V, Thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc S, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người được uỷ quyền: ông Nguyễn Chính N (Có mặt), Chức vụ: Cán bộ. (Giấy uỷ quyền ngày 24/6/2024 và ngày 17/7/2024).
Người kháng cáo: Bị đơn Công ty cổ phần T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 30/11/2022, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 11/5/2023 và quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày và yêu cầu:
Ngày 28/3/2020, Công ty TNHH Đ1 (gọi tắt là Công ty Đ1) và Công ty Cổ phần T2 (gọi tắt là Công ty T2) ký kết hợp đồng mua bán số 038/HĐMB.2020 với nội dung chủ yếu sau: Hàng hóa mua bán: Sắt thép, xi măng, que hàn, kẽm buộc, cát đá các loại theo đơn đặt hàng của bên mua; Thời gian giao hàng: Giao hàng theo từng đợt (Sau 01-10 ngày kể từ ngày bên bán nhận được đặt hàng của bên mua); Địa điểm giao hàng: Thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Phương thức thanh toán: Thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Theo yêu cầu đặt hàng của Công ty T2, Công ty Đ1 đã tiến hành giao hàng và xuất hóa đơn Giá trị gia tăng đầy đủ cho Công ty T2, tuy nhiên, Công ty T2 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Đ1. Đến ngày 31/3/2022, hai bên cùng tiến hành ký xác nhận Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ số 162/DV.2022.
Từ ngày ký Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ, Công ty Đ1 đã nhiều lần yêu cầu Công ty T2 thanh toán tiền nợ nhưng Công ty T2 không thực hiện nghĩa vụ. Do vậy, Công ty Đ1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty T2 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Đ1 số tiền mua bán hàng hóa còn nợ là 1.160.324.689 đồng và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tính từ ngày 10/4/2022 đến ngày 10/5/2023 với lãi suất theo thỏa thuận tại hợp đồng là 1,2%/tháng, tiền lãi tạm tính là 183.795.431. Đồng thời, Công ty Đ1 yêu cầu tiếp tục tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ với lãi suất 1,2%/tháng từ ngày 11/5/2023 cho đến khi Công ty T2 thanh toán xong nợ .
* Tại văn bản số 37/ĐGH.TÐAÐ ngày 23/3/2023, Bị đơn Công ty Cổ phần T2 trình bày: Ngày 15/3/2023, Công ty T2 nhận được Thông báo thụ lý số 21/TB.TLVA ngày 08/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ về việc thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH Đ1 và Công ty Cổ phần T2 và Thông báo số 21/TB-TA ngày 09/3/2023 về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa
án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Sau khi nhận được Thông báo trên, Công ty T2 đã kiểm tra lại hợp đồng, biên bản giao nhận hàng hóa, kiểm kê và bàn giao tại công trường, Công ty T2 nhận thấy Công ty Đ1 giao hàng không đúng theo hợp đồng đã ký kết, Công ty T2 sẽ phối hợp với Công ty Đ1 để đối chiếu công nợ còn lại.
Tòa án không hòa giải thành nên đưa ra xét xử. Tại Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 31/2023/KDTM-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty TNHH Đ1.
Buộc Công ty Cổ phần T2 thanh toán cho Công ty TNHH Đ1 số tiền 1.401.672.224 đồng (Một tỷ bốn trăm lẻ một triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng), trong đó: Nợ gốc là 1.160.324.689 đồng (Một tỷ một trăm sáu mươi triệu ba trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng) và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ là 241.347.535 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi lăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận là 1,2%/tháng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 14/10/2023: Bị đơn Công ty T2 có đơn kháng cáo không đồng ý với Bản án sơ thẩm và cho rằng do trong thời gian dịch bệnh kéo dài, nhân sự thay đổi và lưu trữ bàn giao giấy tờ ở nhiều nơi nên việc xác định lại giá trị hàng hoá mất nhiều thời gian và bị chậm đến nay mới kiểm tra xong đầy đủ. Công ty T2 nhận thấy sơ sự sai lệch về cách tính khối lượng . Vì vậy, Bị đơn không đồng ý với số liệu công nợ Nguyên đơn đưa ra và không đồng ý với cách tính lãi chậm trả. Đề nghị tuyên huỷ án sơ thẩm, với các yêu cầu như sau:
- Cơ sở nào để Nguyên đơn và Toà án án khẳng định công nợ của hai bên từ hợp đồng số 038 vì hai bên đang ký kết và thực hiện nhiều hợp đồng trong cùng thời điểm.
- Yêu cầu chốt lại giá trị mua bán hàng hoá theo đúng thực tế giao nhận giữa hai bên về phần hộp nối cao giao thực tế tại công trường và đề nghị thanh toán của Nguyên đơn. Riêng phần sai lệch Công ty T2 đang điều tra bổ sung thêm các chứng cứ về trường hợp có sự thông đồng gian lận giữa cán bộ hiện trường,
cán bộ đặt hàng và nhà cung cấp trong giao hàng hoá hay không là sự cố ý gian lận trong việc cung cấp hàng hoá sẽ làm việc vào vụ kiện khác.
- Chốt lại công nợ của từng hợp đồng cụ thể vì 02 bên đã ký kết nhiều hợp đồng mua bán, cung cấp cùng thời điểm và chưa thanh lý hợp đồng nào.
- Yêu cầu Công ty Đ1 bổ sung đầy đủ giấy tờ và thủ tục thanh toán theo các hợp đồng đã ký và hoàn thiện lưu trữ hồ sơ và phục vụ công tác thanh tra kiểm tra của các công trình theo quy định của pháp luật.
- Tính lãi trả chậm theo đúng thoả thuận trong các Hợp đồng giữa hai bên.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 25/6/2024:
* Đại diện của Bị đơn: vẫn giữ yêu cầu kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm. Qua đối chiếu các chứng từ thấy rằng trước khi xác nhận công nợ Bị đơn đã trả được cho Nguyên đơn 2 khoản tiền theo hoá đơn số 1505 là 12.000.000 đồng và hoá đơn 1920 là 120.725.228 đồng. Đến ngày 09/4/2022 còn thanh toán được thêm số tiền 473.706.128 đồng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho Bị đơn cần thiết đối chiếu lại, vì hai bên không chỉ ký hợp đồng mua bán số 38 mà còn ký tổng cộng 6 hợp đồng với nhau. Thời gian dịch Covid kéo dài, doanh nghiệp khó khăn nhưng Công ty Đ1 không chia sẻ mà khởi kiện đòi nợ làm ảnh hưởng đến uy tín của Công ty T2. Nếu không đối chiếu được thì đề nghị huỷ án sơ thẩm.
* Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: yêu cầu Bị đơn thanh toán cho Nguyên đơn số tiền nợ gốc và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ như án sơ thẩm. Do phạm vi uỷ quyền của ông chỉ trong số nợ được đối chiếu, các chứng cứ Bị đơn đưa ra không nắm rõ nên ông yêu cầu hoãn lại phiên toà để hai bên thực hiện đối chiếu.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay:
* Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: yêu cầu Bị đơn thanh toán cho Nguyên đơn số tiền nợ gốc và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ như án sơ thẩm. Đối với số liệu nếu hai bên thông nhất như Nguyên đơn đã kiểm tra thì đối trừ các khoản đã thanh toán, nếu Bị đơn không đồng ý thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, cần thiết Bị đơn có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
* Đại diện của Bị đơn: vẫn giữ yêu cầu kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm. Qua đối chiếu các chứng từ thấy rằng vì hợp đồng mua bán số 38 số tiền hàng chỉ còn nợ hơn 46 triệu đồng. Các số liệu Nguyên
đơn đồng ý giảm trừ đại diện Bị đơn không đồng ý vì việc đối chiếu chưa cụ thể nên vẫn đề nghị huỷ án sơ thẩm, không đồng ý với số tiền Nguyên đơn đối chiếu.
*Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn kháng cáo của Bị đơn được chấp nhận kháng cáo quá hạn do thuộc trường hợp khách quan và đã nộp tạm ứng án phí nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung: Bị đơn không đồng ý với số liệu công nợ Nguyên đơn đưa ra và không đồng ý với cách tính lãi chậm trả. Đề nghị tuyên huỷ án sơ thẩm với các yêu cầu và lần lượt được xem xét đánh giá như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm ngày 25/6/2024, Bị đơn cung cấp một số chứng cứ cho rằng đã hoàn thành một phần công nợ sau khi Toà án sơ thẩm thụ lý, Bị đơn cho rằng Công ty T2 giao hàng sai trọng lượng nên yêu cầu cung cấp chứng chỉ của từng lô hàng và tiến hành tính lãi chậm trả trên từng hoá đơn đối với chứng cứ mới phát sinh cấp phúc thẩm đã tạm dừng phiên toà để các bên tiếp cận và có thời gian đối chiếu số liệu.
Ngày 18/7/2024, phiên toà tiếp tục với kết quả Nguyên đơn xác nhận đã kiểm tra đối chiếu công nợ đối với số tiền 473.706.128 đồng thanh toán ngày 19/4/2024 (cho các hoá đơn sau: Hoá đơn số 1920 thanh toán 73.725.228 đồng; hoá đơn số 3315 thanh toán 56.430.000 đồng; hoá đơn số 3393 thanh toán 4.569.400 đồng; hoá đơn số 3601 thanh toán 59.565.000 đồng; hoá đơn số 3793 thanh toán 279.416.500 đồng), tức là sau ngày đối chiếu công nợ 31/3/2022 Nguyên đơn có nhận được, nhưng do Bị đơn không hợp tác, không ký vào các biên bản đối chiếu công nợ sau ngày đó nên Nguyên đơn phải dùng bản đối chiếu công nợ ngày 31/3/2022 để khởi kiện, các khoản thanh toán giữa 02 bên sau ngày 31/3/2022 Nguyên đơn sẽ cấn trừ trong giai đoạn thi hành án. Như vậy, Nguyên đơn cấn trừ số tiền nợ theo các hoá đơn phát sinh tại phiên toà, hiện chỉ yêu cầu Bị đơn trả 834.336.611 đồng (kèm theo bảng kê ngày 30/6/2024 và tự khai của Nguyên đơn ghi ngày 05/7/2024). Các yêu cầu còn lại của Bị đơn, Nguyên đơn không đồng ý.
Phía Bị đơn cho rằng việc xác định nợ đối với Bị đơn dù số tiền có giảm hơn cũng không đồng ý, bởi theo đơn khởi kiện thì Công ty Đ1 chỉ yêu cầu số tiền và
trách nhiệm có liên quan đến Hợp đồng mua bán số 038 ngày 28/3/2020 giữa 2 bên nhưng xác nhận công nợ là tổng hợp của các hợp đồng còn lại nếu căn cứ vào Công văn 162 ngày 31/3/2022 là 1.160.323.689 đồng. Bị đơn cũng cho rằng Nguyên đơn đã giao hàng không đúng hợp đồng ký kết nên phải phối hợp với Nguyên đơn xác định lại công nợ, nếu không thực hiện lại việc đối chiếu thì vẫn yêu cầu huỷ án để Bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự.
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Tại mục 7, Phần IV Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC của Toà án nhân dân tối cao ngày 07/4/2017 giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án có hướng dẫn và Tại Điều 32 Nghị quyết 05/2012/HĐTP-TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai thủ tục giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm của Bộ luật Tố tụng dân sự: Thấy rằng: Sau khi đánh giá, thấy rằng Bị đơn đã được thông báo, triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý đến xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt nên Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi nhận bản án sơ thẩm thì Bị đơn kháng cáo yêu cầu xác nhận lại công nợ, đối chiếu số liệu tại từng hoá đơn, lãi suất và chất lượng hàng hoá được nhận không đúng với hợp đồng.
Tuy nhiên, yêu cầu này được đưa ra trong giai đoạn xét xử cấp phúc thẩm có thể gây bất lợi cho Nguyên đơn bởi đã kết thúc thời hạn chuẩn bị xét xử, nếu yêu cầu của Bị đơn được chấp nhận sẽ tạo ra cho Nguyên đơn sự thụ động vì yêu cầu phát sinh phía Nguyên đơn không có thời gian tiếp cận, đánh giá tài liệu, mà thực tế người uỷ quyền của Nguyên đơn tại phiên toà thường chỉ là người đại diện theo uỷ quyền không phụ trách các mảng nghiệp vụ kế toán, điều vận hay kho hàng...nên sẽ phải dừng phiên toà để các bên thực hiện việc công khai chứng cứ để giải quyết toàn diện vụ án, trong khi thời điểm này không thể giải quyết toàn diện những yêu cầu phát sinh của Bị đơn đưa ra; Mặt khác, cần xét đến quá trình tố tụng việc xem xét các yêu cầu Bị đơn đưa ra có làm thay đổi số tiền tạm ứng án phí, hoặc tư cách tham gia tố tụng; Từ đánh giá trên cơ sở luật định, đối với chứng cứ mới này cần dành quyền khởi kiện cho Bị đơn thành một vụ án khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Không chấp nhận những yêu cầu từ chứng cứ Bị đơn cung cấp tại phiên toà ngày 25/6/2024, yêu cầu huỷ án sơ thẩm không có cơ sở.
Đề nghị, ghi nhận ý kiến của Nguyên đơn về việc chấp nhận giảm trừ số tiền công nợ gốc, nhưng do phía Bị đơn không đồng ý nên không có cơ sở xác định sự chính xác trong các hoá đơn mà phía Công ty Đ1 đã đối trừ; Đối với kháng cáo của Bị đơn, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp
nhận kháng cáo của Bị đơn Công ty T2, giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên; ý kiến của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền mua bán hàng hóa còn nợ theo hợp đồng mua bán được ký kết giữa hai bên. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các chủ thể có đăng ký kinh doanh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Do các đương sự có thỏa thuận về việc chọn Tòa án nơi bên bán đặt trụ sở giải quyết tranh chấp nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự như án sơ thẩm nhận định là phù hợp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định pháp luật nhưng vẫn vắng mặt nên cấp sơ thẩm vắng mặt Bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp.
[3] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm Bị đơn có Đơn kháng cáo trễ hạn và được Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét chấp nhận kháng cáo trễ hạn bằng Quyết định số 01/2024/QĐPT-KCQH ngày 05/03/2024 và Bị đơn được đóng tiền tạm ứng án phí kháng cáo theo quy định nên phù hợp về mặt hình thức.
[4] Về nội dung: Để xét kháng cáo của các đương sự cần thiết đánh giá với tổng thể các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ kiện, lời khai của các đương sự và các chứng cứ khác, lần lượt đánh giá xem xét đánh giá kháng cáo đối với yêu cầu của Nguyên đơn, Bị đơn. Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn có liên quan đến nội dung khởi kiện của Nguyên đơn nên lần lượt bản án phân tích đánh giá.
[5] Căn cứ Hợp đồng mua bán số 038/HĐMB.2020 ngày 28/3/2020 và Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ số 162/ĐV.2022 ngày 31/3/2022 giữa Công ty Đ1 và Công ty T2 thể hiện giữa 2 công ty có ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa được người đại diện theo pháp luật của hai bên ký kết theo đúng quy định pháp luật nên có giá trị pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên, có căn cứ để xác định
số tiền mua bán hàng hóa là 1.160.324.689 đồng. Nay Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền nợ nêu trên như án sơ thẩm xác định là phù hợp.
[6] Bị đơn kháng cáo yêu cầu đề nghị chốt lại giá trị mua bán hàng hoá theo đúng thực tế giao nhận giữa hai bên về phần hộp nối cao giao thực tế tại công trường và đề nghị thanh toán của Nguyên đơn. Riêng phần sai lệch Công ty T2 đang điều tra bổ sung thêm các chứng cứ về trường hợp có sự thông đồng gian lận giữa cán bộ hiện trường, cán bộ đặt hàng và nhà cung cấp trong giao hàng hoá hay không là sự cố ý gian lận trong việc cung cấp hàng hoá của nhà cung cấp Công ty T2 sẽ khởi kiện trong vụ kiện khác. Tuy nhiên Bị đơn không cung cấp được chứng cứ cho vấn đề đặt ra như trong đơn kháng cáo.
[7] Trong quá trình giải quyết án của cấp sơ thẩm, ngày 23/3/2023 Bị đơn có văn bản gửi Tòa án trình bày sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án phía Bị đơn đã kiểm tra lại lại việc giao, nhận hàng thì nhận thấy hàng hóa của Công ty Đ1 giao không đúng theo hợp đồng đã ký nên cần thời gian kiểm tra lại toàn bộ đơn hàng. Sau khi xác định xong số lượng đã nhận, sẽ tiến hành đối chiếu lại công nợ giữa các bên. Đây cũng là nội dung kháng cáo của Bị đơn đối với vụ án này, kèm theo bảng giá trị thanh toán tính sai giữa thực tế và đề nghị thanh toán (bút lục 96-97) nhưng không có xác nhận hay đối chiếu nào từ phía Nguyên đơn. Qua đánh giá, nhận định lý do kháng cáo chỉ từ phía Bị đơn trong việc giao nhận hàng hóa đã được thực hiện, việc giao nhận hàng hóa giữa các công ty đều có ký nhận, đến ngày chốt công nợ tại Biên bản đối chiếu và xác nhận nợ số 162/ĐV.2022 ngày 31/3/2022 có đóng dấu bản đối chiếu công nợ thừa nhận tiền còn nợ của Bị đơn. Đối với chứng cứ là trang A4 liệt kê số tiền chênh lệch không phải là chứng cứ đã được công khai và xác nhận của Nguyên đơn nên không có cơ sở xem xét. Ngoài ra, cần xét đến quá trình giải quyết vụ án Bị đơn đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không có mặt, đồng nghĩa Bị đơn đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ trong quá trình tố tụng và nên hội đồng cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết theo quy định pháp luật.
[8] Xét đối với yêu cầu Công ty Đ1 bổ sung đầy đủ giấy tờ và thủ tục thanh toán theo các hợp đồng đã ký. Công ty T2 hoàn thiện lưu trữ hồ sơ và phục vụ công tác thanh tra kiểm tra của các công trình theo quy định của pháp luật. Toà án đã dành thời gian cho các bên thực hiện đối chiếu lại các số liệu đã được cung cấp tại giai đoạn phúc thẩm. Nguyên đơn có ý thiện chí khấu trừ các hoá đơn mà Bị đơn đề nghị đối chiếu để ghi nhận giảm bớt trên số nợ gốc và tính lại lãi theo số liệu này. Tuy nhiên, phía đại diện Bị đơn vẫn bảo lưu quan điểm kháng cáo không
đồng ý khấu trừ mà đề nghị huỷ án. Do đó, không thể ghi nhận được điều chỉnh bản án mà như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát cần giữ y như án sơ thẩm đã tuyên, Bị đơn khi thu thập các chứng cứ chứng minh có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
[9] Những cơ sở pháp lý được vận dụng bao gồm:
[9.1] Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án sẽ chấp nhận và hướng dẫn đương sự cung cấp chứng cứ cũng như yêu cầu nộp thêm tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu vượt quá này. Cho nên khi Bị đơn có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập sau thời điểm này đều không được xem xét.
[9.2] Tại mục 7, Phần IV Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC của Toà án nhân dân tối cao ngày 07/4/2017 giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án có hướng dẫn: “...Tòa án chấp nhận việc Nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải...”.
[9.3] Tại Điều 32 Nghị quyết 05/2012/HĐTP-TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai thủ tục giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của Nguyên đơn, đơn phản tố của Bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan”
[10] Từ những phân tích nêu trên, Bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được thêm chứng cứ nào khác chứng minh nên không có cơ sở để xem xét đánh giá.
[11] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của Bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí.
[12] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ được chấp nhận do phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty Cổ phần T2. Giữ Y Bản án sơ thẩm;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty TNHH Đ1.
Buộc Công ty Cổ phần T2 thanh toán cho Công ty TNHH Đ1 số tiền 1.401.672.224 đồng (Một tỷ bốn trăm lẻ một triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng), trong đó: Nợ gốc là 1.160.324.689 đồng (Một tỷ một trăm sáu mươi triệu ba trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng) và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ là 241.347.535 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi lăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận là 1,2%/tháng.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn Công ty Cổ phần T2 phải chịu 54.050.167 đồng (Năm mươi bốn triệu không trăm năm mươi nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng).
Nguyên đơn Công ty TNHH Đ1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 30.764.000 đồng (Ba mươi triệu bảy trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000533 ngày 06/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Bị đơn Công ty Cổ phần T2 phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí Bị đơn Công ty Cổ phần T2 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001178 ngày 10/4/2024 thành án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (ngày 18/7/2024).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Minh Trang |
Bản án số 25/2024/KDTM-PT ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 25/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
