|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày 17-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Loan.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lý Xuân Phong;
- Bà Đỗ Thị Linh Phương.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Liêm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trọng Tư, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Văn Phú H, sinh ngày 29/4/1989; nơi sinh: huyện D, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: khối phố X, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Phú H1 và bà Võ Thị Thu H2; vợ Nguyễn Thị Thanh H3; bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 14/8/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án số 69/2024/HSST. Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện D theo Quyết định tạm giam số 149/2024/HSST-QĐTG ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên. Có mặt.
- Bị hại: chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1979 và anh Nguyễn Hữu H4, sinh năm 1971. Vắng mặt
Anh H4 ủy quyền cho chị L tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền 06/5/2024.
Cùng địa chỉ: thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Trần Thị H5, sinh năm 1960. Vắng mặt
- + Chị Nguyễn Thị Thanh H6, sinh năm 1987. Vắng mặt
Chị H6 ủy quyền cho bà H5 tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 02/5/2024.
Cùng địa chỉ: tổ H, khối phố X, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
- + Anh Nguyễn Văn T; sinh năm 1984. Có mặt
Địa chỉ: khối phố P, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
- + Ông Văn Phú H1, sinh năm 1958. Có mặt
Địa chỉ: tổ A, khối phố X, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
- Người làm chứng: anh Nguyễn Văn H7, sinh năm 1988. Vắng mặt
Địa chỉ: khối phố L, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 50 phút, ngày 10 tháng 4 năm 2024, bị cáo H4 đến nhà mẹ vợ là bà Trần Thị H5 mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ đen, biển số 92F1-583.55. Bị cáo H4 nói với bà H5 mượn xe để đi công việc nhưng mục đích mượn xe là để đi đến tiệm điện thoại Minh H8, lợi dụng sơ hở của chủ quán chiếm đoạt điện thoại, lấy tiền chuộc laptop của em trai là Văn Phú H9 mà bị cáo đã đem đi cầm cố trước đó. Khi đi được một đoạn đến cánh đồng trống gần nhà nghỉ S (thị trấn N), bị cáo dừng xe, dùng băng keo hai mặt đã chuẩn bị từ trước, dán vào biển số xe mục đích là nếu có bị truy đuổi thì cũng không tìm ra được biển số xe của bị cáo sử dụng.
Khi đi đến trước tiệm điện thoại Minh H8, bị cáo đi quanh qua một vòng rồi dừng xe lại, quay đầu xe ra hướng đường quốc lộ phía trước tiệm điện thoại Minh H8, trên xe cắm sẵn chìa khóa đã bật chế độ mở khóa. Khoảng 11 giờ 25 phút cùng ngày, bị cáo đeo khẩu trang, đầu đội mũ bảo hiểm đi vào tiệm điện thoại Minh H8, gặp chị Nguyễn Thị Mỹ L đang đứng bán hàng. Bị cáo H4 nói “chị có điện thoại cũ nào dùng được thì bán em 01 (một) cái”. Chị L đem 02 (hai) cái điện thoại đều là nhãn hiệu OPPO, một cái màu xanh ngọc, một cái màu đen để trên mặt tủ kính.
Chị L đưa cho bị cáo xem cái điện thoại màu đen. Bị cáo cầm cái điện thoại màu đen lên xem, bấm vào nút nguồn để khởi động, màn hình điện thoại sáng lên nhưng hiện lên chữ Anh ngữ. Bị cáo H4 nó: “điện thoại như ri chị bán cho ai”, rồi đưa lại điện thoại này cho chị L. Chị L cầm điện thoại màu đen đem vào khu kỹ thuật cách đó khoảng 05 mét đưa cho Nguyễn Văn H7 kiểm tra. Khi chị L đi đến khu kỹ thuật và đưa điện thoại cho anh H7 kiểm tra, lúc này giữa chị L và bị cáo H4 bị khuất tầm nhìn bởi vách ngăn kín của khu kỹ thuật, lợi dụng chị L không nhìn thấy, bị cáo H4 dùng tay trái cầm điện thoại OPPO còn lại đang để trên tủ kính bỏ vào túi quần bên trái rồi chạy ra xe, nổ máy xe chạy về hướng thị trấn N, huyện D. Chị L đang đứng tại khu kỹ thuật, bị khuất bức tường xây của phòng kỹ thuật nên không nhìn thấy H4. Sau đó, chị L đi từ khu kỹ thuật ra bên ngoài thấy bị cáo H4 điều khiển xe mô tô, chạy cách cửa hàng điện thoại của chị L khoảng 50 (mét) theo hướng N. Khi nhìn trên mặt tủ kính không còn điện thoại OPPO màu xanh ngọc nữa, chị L có la lên “ủa điện thoại mất rồi, thằng đó lấy điện thoại chạy mất rồi”.
Sau khi lấy được điện thoại, bị cáo H4 chạy xe đến cánh đồng gần nhà, gỡ lớp băng keo đã dán lên biển số xe để trả xe lại cho bà H5. Bị cáo H4 mượn xe Nouvo (không rõ biển số) của người bạn tên là H10 (không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) để mang điện thoại OPPO vừa lấy được đến tiệm cầm đồ Thành Đông II, do anh Nguyễn Văn T làm chủ để cầm cố. Bị cáo H4 cầm cố cái điện thoại này cho anh T với giá 1.250.000 (một triệu, hai trăm năm mươi nghìn) đồng và chuộc lại cái laptop đã cầm cố trước đó khoảng một tuần với số tiền 1.050.000 (một triệu, không trăm năm mươi nghìn) đồng. Anh T đưa cho bị cáo H4 thêm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo H4 có gọi điện cho anh T, yêu cầu chuyển thêm cho H4 500.000 (năm trăm nghìn) đồng tiền cầm cố điện thoại OPPO A77 5G màu xanh ngọc vào số tài khoản của bị cáo H4 đứng tên, ngân hàng S1, số tài khoản 040098819187. Anh Nguyễn Văn T đã chuyển tiền theo yêu cầu của bị cáo H4.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận giá trị định giá là: 2.850.000 (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- + 01 (một) xe mô tô biển số 92F1-583.55, loại xe Honda Wave RSX màu đỏ đen.
- + 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, có hoa văn hai bên, có sọc vàng ở giữa, phía trước mũ có bốn chữ : “THIỆN NGUYỆN”, “THIỆN DUYÊN” (Đã được niêm phong trong túi nilong trong suốt).
- + 01 (một) áo khoác gió màu xám, bên trong cổ áo có dòng chữ “JINGPIN, classic Fashion” (Đã được niêm phong trong túi nilong trong suốt).
- + 01 (một) đĩa DVD có chứa đoạn video dài 3 phút 44 giây, ký hiệu video1.mp4 dung lượng 21,4 MB.
- + 01 (một) đĩa DVD có chứa 02 (hai) đoạn video. Được ký hiệu lần lượt là video1.mp4 dài 01 phút 03 giây, dung lượng 7,11 MB; video2.mp4 dài 01 phút 09 giây, dung lượng 8,00 MB.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A77 5G, bộ nhớ 128 GB, kiểu máy CPH 2339, số IMEI 1: 863689069976658, số IMEI 2: 863689069976641.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKSQS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Văn Phú H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo tại Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Văn Phú H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Căn cứ vào Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt 15 tháng tù tại Bản án số 69/2024/HSST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, có hoa văn hai bên, có sọc vàng ở giữa, phía trước mũ có bốn chữ : “THIỆN NGUYỆN”, “THIỆN DUYÊN” (Đã được niêm phong trong túi nilong trong suốt); 01 (một) áo khoác gió màu xám, bên trong cổ áo có dòng chữ “JINGPIN, classic Fashion” (Đã được niêm phong trong túi nilong trong suốt); tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD có chứa đoạn video dài 3 phút 44 giây, ký hiệu video1.mp4 dung lượng 21,4 MB và 01 (một) đĩa DVD có chứa 02 (hai) đoạn video, được ký hiệu lần lượt là video1.mp4 dài 01 phút 03 giây, dung lượng 7,11 MB; video2.mp4 dài 01 phút 09 giây, dung lượng 8,00 MB được bỏ trong bì thư của Công an xã Q.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa, bị hại – chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Hữu H4, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H5, chị Nguyễn Thị Thanh H6 và người làm chứng anh Nguyễn Văn H7 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 293 và 299 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt họ tại phiên tòa.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Tại phiên tòa, bị cáo Văn Phú H đã khai nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:
Vào ngày 10/4/2024, để có tiền tiêu xài cá nhân và chuộc lại laptop đã đem đi cầm cố trước đó nên bị cáo H đã lén lút trộm cắp của chị Nguyễn Thị Mỹ L 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A77 5G màu xanh ngọc có giá trị được định giá là: 2.850.000 (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Văn Phú H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số 25/CT-VKSQS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: quyền sở hữu tài sản của mọi công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với bản chất lười lao động, thích hưởng thụ, bị cáo lợi dụng sự sơ hở và mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[5]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo có nhân thân xấu: ngày 14/8/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 69/2024/HSST. Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện D theo Quyết định tạm giam số 149/2024/HSST-QĐTG ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo và gia đình đã bồi thường cho người liên quan; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự năm 2013. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa nhưng phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân tốt.
Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xử phạt 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án số 69/2024/HSST; vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Chị L đã nhận lại 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A77 5G, bộ nhớ 128 GB, kiểu máy CPH 2339, số IMEI 1: 863689069976658, số IMEI 2: 863689069976641. Ông Văn Phú H1 là cha ruột của bị cáo H đã tự nguyện liên hệ và đền bù cho anh Nguyễn Văn T số tiền 1.750.000 (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng. Chị L và anh T không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, có hoa văn hai bên, có sọc vàng ở giữa, phía trước mũ có bốn chữ : “THIỆN NGUYỆN”, “THIỆN DUYÊN” (Đã được niêm phong trong túi nilong trong suốt); 01 (một) áo khoác gió màu xám, bên trong cổ áo có dòng chữ
“JINGPIN, classic Fashion” (Đã được niêm phong trong túi nilong trong suốt); tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD có chứa đoạn video dài 3 phút 44 giây, ký hiệu video1.mp4 dung lượng 21,4 MB và 01 (một) đĩa DVD có chứa 02 (hai) đoạn video, được ký hiệu lần lượt là video1.mp4 dài 01 phút 03 giây, dung lượng 7,11 MB; video2.mp4 dài 01 phút 09 giây, dung lượng 8,00 MB được bỏ trong bì thư của Công an xã Q.
[8]. Những vấn đề khác trong vụ án:
- - Đối với anh Nguyễn Văn T: tại thời điểm nhận cầm cố tài sản trên, anh T không biết được số tài sản trên là do phạm tội mà có, anh T không hứa hẹn trước về việc thu mua tài sản mà bị can trộm cắp mà có được nên không có cơ sở để xem xét, xử lý hành vi của anh T.
- - Đối với bà Trần Thị H5: vào ngày 10/4/2024, bị cáo nói với bà H5 mượn xe mô tô biển số 92F1-583.55, loại xe Honda Wave RSX màu đỏ đen để đi công việc, bà H5 không biết việc bị cáo H sử dụng xe máy trên để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cơ quan điều tra công an huyện Q đã trả lại 01 (một) xe mô tô biển số 92F1-583.55, loại xe Honda Wave RSX màu đỏ đen cho bà H5 là phù hợp.
- - Đối với người đàn ông tên H10: bị cáo H không nhớ rõ biển số xe mô tô đã mượn và không biết nhân thân, địa chỉ của người này. Vì vậy, không có cơ sở để xác minh.
[9]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 292, 299, 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Tuyên bố: bị cáo Văn Phú H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Văn Phú H 09 (Chín) tháng tù.
Căn cứ vào Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt 15 tháng tù tại Bản án số 69/2024/HSST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, buộc bị cáo Văn Phú H phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 11/4/2024).
-
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, có hoa văn hai bên, có sọc vàng ở giữa, phía trước mũ có bốn chữ : “THIỆN NGUYỆN”, “THIỆN DUYÊN” (Đã được niêm phong trong túi nilong trong suốt); 01 (một) áo khoác gió màu xám, bên trong cổ áo có dòng chữ “JINGPIN, classic Fashion” (Đã được niêm phong trong túi nilong trong suốt);
- (Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2024 ).
- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD có chứa đoạn video dài 3 phút 44 giây, ký hiệu video1.mp4 dung lượng 21,4 MB và 01 (một) đĩa DVD có chứa 02 (hai) đoạn video, được ký hiệu lần lượt là video1.mp4 dài 01 phút 03 giây, dung lượng 7,11 MB; video2.mp4 dài 01 phút 09 giây, dung lượng 8,00 MB được bỏ trong bì thư của Công an xã Q.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17-9-2024). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Loan |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Văn Phú Hiệp phạm tội "trộm cắp tài sản"
