|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 19/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh và ông Huỳnh Công Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Nghĩa – Kiểm sát viên Trung cấp.
Vào ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm – Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần – Trại tạm giam Công an tỉnh P. Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Đình T
, sinh ngày 30/12/1968; tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký thường trú: Không; chỗ ở: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; con ông: Phan Đình N (chết) và bà Lê Thị Minh T1 (chết); chung sống như vợ chồng với bà Cao Thùy Vương O, sinh 1982 và 05 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 03/9/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt.
- Các bị hại:
- Trịnh Huy H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: C L, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Lê Phan Ánh L, sinh năm 1986. Nơi cư trú: L, B N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Lê Đoàn Bảo Đ, sinh năm 1993. Nơi cư trú: chung cư R, Đ, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Phạm Minh T2, sinh năm 1985. Nơi cư trú: J2-28.05, số B đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Cao Thùy Vương O, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- K'Sor Hờ Quỳnh N1, sinh năm 2004. Nơi cư trú: Buôn Bá, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Phạm Thị Thu T3, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, Phan Đình T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách tìm trên các trang mạng xã hội những người đăng tin bán nhà, đất, xây dựng công trình... rồi điện thoại giả làm người đi mua đất, có nhu cầu xây dựng công trình để tiếp cận. Khi gặp, tiếp xúc với người bị hại, T đưa ra nhiều thông tin gian dối về điều kiện kinh tế của mình như hiện đang làm Giám đốc công ty, có nhà ở khu V, có nhiều tài sản như xe ôtô, du thuyền... để người bị hại tin tưởng T là người giàu có, rồi lợi dụng sự tin tưởng tìm cách chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Quá trình điều tra xác định từ tháng 01/2023 đến tháng 08/2023, T đã 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Phú Yên, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: T biết chị Lê Phan Ánh L, trú L, số B N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đang cần bán nhà, đất ở Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh nên gọi điện thoại cho chị L tự xưng tên là Tuấn A và hẹn ngày đi xem đất. Khoảng 09 giờ ngày 15/01/2023, T gặp và yêu cầu chị L đưa đi xem đất. Chị L cùng anh Lê Đoàn Bảo Đ, trú chung cư R, Đ, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (làm cùng công ty với chị L) đưa T đi xem đất, nhà. T giả vờ đồng ý mua 03 lô đất với giá 5.500.000.000 đồng/lô và hẹn sáng ngày hôm sau sẽ làm thủ tục công chứng hợp đồng. Trong quá trình chị L và anh Đ mời T đi ăn nhậu, hát karaoke, T đưa thông tin gian dối về việc muốn giúp đỡ nhân viên của quán có hoàn cảnh khó khăn, mượn của anh Đ 5.000.000 đồng. Sau khi nhậu xong, T giả vờ muốn thanh toán nên khi chị L đưa thẻ ngân hàng cho nhân viên quán để thanh toán thì T cầm lấy thẻ rồi bỏ đi khỏi quán. Một lúc sau, T gọi điện thoại cho chị L tiếp tục nói về hoàn cảnh khó khăn của nhân viên, phải cần tiền gấp nên hỏi chị L mượn 20.000.000 đồng và hẹn sáng ngày
hôm sau trả, vì tin tưởng T nên chị L cung cấp mật khẩu rút tiền cho T rồi T đến trụ ATM rút 15.000.000 đồng, bị chị L phát hiện nên T cắt đứt liên lạc với chị L, chiếm đoạt của anh Đ 5.000.000 đồng, của chị L 15.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: T biết anh Phạm Minh T2, trú J, số B đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đang quảng cáo thiết kế nhà nên T gọi điện thoại cho anh T2 tự xưng tên là D nói dối đang có nhu cầu thiết kế nhà biệt thự và hẹn anh T2 gặp nhau để trao đổi cụ thể. Ngày 23/8/2023, T gặp anh T2 tại Thành phố Hồ Chí Minh trao đổi, bàn bạc việc thiết kế nhà và thống nhất giá cả rồi rủ anh T2 đi nhậu. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T lấy lý do cho tiền nhân viên nữ phục vụ quán nhậu nhưng không có tiền mặt nên hỏi mượn tiền anh T2, anh T2 tin là thật đã đưa cho T 14.000.000 đồng, T tìm lý do rời khỏi quán, chiếm đoạt của anh T2 14.000.000 đồng.
Vụ thứ ba: T biết anh Trịnh Huy H, trú số C L, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh có đăng bài bán đất rừng ở xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên nên gọi điện thoại cho anh H tự xưng tên là P hẹn ngày đi xem đất. Khoảng 07 giờ ngày 27/8/2023, T đến thành phố T, gọi điện thoại cho anh H chở đi thị xã S xem đất, T giả vờ đồng ý mua đất của anh H với giá 50.000.000.000 đồng và hẹn ngày hôm sau sẽ đặt tiền cọc. Sau đó, anh H và T về thành phố T nhậu rồi T mời anh H đi hát karaoke tại quán P1 ở Phường B, thành phố T. Tại đây, T giả vờ nói với anh H là hết tiền mặt và bảo anh H cho mượn 1000 USD để trả tiền quán. Anh H đồng ý và lấy trong túi xách số tiền 79.000.000 đồng ra đếm để đưa cho T thì T bảo anh H đưa hết số tiền cho T mượn rồi T sẽ ra ngân hàng rút tiền trả lại, anh Hoàng t là thật nên đưa hết cho T. Sau đó, T giả vờ đi ra ngoài giải quyết công việc rồi bỏ trốn, chiếm đoạt của anh H 79.000.000 đồng. Ngày 02/9/2023, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P bắt giữ khi đang lẩn trốn tại tỉnh Đắk Nông.
Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKSPY-P1 ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Phan Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Đ1 c, Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Đình T4 vẫn khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố là đúng.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phan Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Về hình phạt: Áp dụng Điểm c, Khoản 2 Điều 174; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Phạt: Bị cáo Phan Đình T từ 04 (B) đến 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579 Bộ luật Dân sự;
Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại Trịnh Huy H không yêu cầu bị cáo Phan Đình T phải hoàn trả.
Buộc bị cáo Phan Đình T phải hoàn trả cho các bị hại tổng số tiền 34.000.000₫ (Ba mươi bốn triệu đồng), cụ thể: Bồi thường cho bị hại Lê Phan Ánh L 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng), bị hại Lê Đoàn Bảo Đ 5.000.000₫ (Năm triệu đồng); bị hại Phạm Minh T2 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) đôi giày da màu nâu; 01 (một) áo thun màu xanh – đỏ - đen; 01 (một) mũ lưỡi trai màu kem; 01 (một) quần jean màu xanh trắng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số S: GHLC24JTCL6, đã qua sử dụng, có sim số 0833474488; 01 (một) điện thoại di động màu trắng, đen có ký hiệu “Vertu S-212029", kèm theo 01 bao da điện thoại màu nâu, bên trong có sim số 0905237481.
Bị cáo không tranh luận; nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi các bị hại và mong được pháp luật khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án không bị khiếu nại. Việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, vắng mặt 02 người bị hại; 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và 02 người làm chứng. Nhưng xét thấy, những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292; 293 Bộ luật Tố tụng hình sự. Toà án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện tất cả chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Đình T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 01/2023 đến tháng 08/2023, tại Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Phú Yên. Phan Đình T đã có hành vi đưa ra nhiều thông tin gian dối để tạo lòng tin rồi chiếm đoạt của chị Lê Phan Ánh L 15.000.000 đồng, anh Lê Đoàn Bảo Đ 5.000.000 đồng, anh Phạm Minh T2 14.000.000 đồng và anh Trịnh Huy H 79.000.000 đồng. Tổng cộng là 113.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Do đó, bản Cáo trạng số: 21/CT-VKSPY-P1 ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Phan Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điểm c, Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Bị cáo Phan Đình T là người có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì lợi ích cá nhân, xem thường pháp luật, bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của người khác, dùng thủ đoạn gian dối để nhiều lần chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác trái pháp luật, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an an toàn xã hội ở địa phương; mặt khác, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “hai lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[4] Trách nhiệm bồi thường dân sự:
[4.1] Tại phiên tòa, bị hại Trịnh Huy H trình bày: Sau khi bị Phan Đình T chiếm đoạt số tiền 79.000.000 đồng, bị hại đã trình báo và Cơ quan điều tra đã giữ Phan Đình T thu hồi trả cho bị hại 27.000.000 đồng, còn lại 52.000.000 đồng, bị hại tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và không giải quyết là có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Các bị hại còn lại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 34.000.000 đồng, gồm: Bị hại Lê Phan Ánh L yêu cầu 15.000.000 đồng, Lê Đoàn Bảo Đ yêu cầu 5.000.000 đồng; Phạm Minh T2 yêu cầu 14.000.000 đồng. Bị cáo Phan Đình T chấp nhận yêu cầu bồi thường của các bị hại. Xét sự thỏa thuận của các bị hại với bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự nên ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] 01 (một) đôi giày da màu nâu; 01 (một) áo thun màu xanh – đỏ – đen; 01 (một) mũ lưỡi trai màu kem; 01 (một) quần jean màu xanh trắng; là những vật trực tiếp liên quan đến tội phạm và không còn giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu tiêu hủy theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5.2] 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số S: GHLC24JTCL6, đã qua sử dụng, có sim số 0833474488; 01 (một) điện thoại di động màu trắng, đen có ký hiệu “Vertu S-212029”, kèm theo 01 bao da điện thoại màu nâu, bên trong có sim số 0905237481; là phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Vật chứng có đặc điểm mô tả như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
[6] Án phí:
[6.1] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Đình T bị kết án phải chịu 200.000 đồng;
[6.2] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Đình T còn phải bồi thường cho các bị hại 34.000.000₫ x 5%, nên phải chịu 1.700.000 đồng; theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Bị cáo Phan Đình T khai nhận đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt của một người tại tỉnh Kiên Giang 7.000.000 đồng, một người tại thành phố Cần Thơ 4.000.000 đồng, nhưng ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm c, Khoản 2 Điều 174; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Phạt: Bị cáo Phan Đình T – 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Phan Đình T phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 34.000.000₫ (Ba mươi bốn triệu đồng), cụ thể: Bồi thường cho bị hại Lê Phan Ánh L 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng), bị hại Lê Đoàn Bảo Đ 5.000.000₫ (Năm triệu đồng); bị hại Phạm Minh T2 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người phải thi hành
án chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và phần nghĩa vụ chưa thi hành.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
3.1. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) đôi giày da màu nâu; 01 (một) áo thun màu xanh – đỏ - đen; 01 (một) mũ lưỡi trai màu kem; 01 (một) quần jean màu xanh trắng.
3.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số S: GHLC24JTCL6, đã qua sử dụng, có sim số 0833474488; 01 (một) điện thoại di động màu trắng, đen có ký hiệu “Vertu S-212029”, kèm theo 01 bao da điện thoại màu nâu, bên trong có sim số 0905237481.
Vật chứng có đặc điểm mô tả như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Phan Đình T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
|
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Đình T
