Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HSST

Ngày: 16- 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Quốc Khuyên
  2. Bà Võ Tuyết Kha.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Út Em - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Quốc P, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980; tại: thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn K, sinh năm 1961 và bà Tạ Thị L, sinh năm 1954; vợ: Phạm Kiều D, sinh năm 1983 (Đã ly hôn); con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: không; Bị khởi tố bị can, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024 đến nay. (Bị cáo có mặt).

Bị hại: Chị Trần Ái D1, sinh năm 1979 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp I, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết từ trước với Trương Ái D2. Vào khoảng 12 giờ ngày 09/11/2023, bị cáo Lê Quốc PTrương Ái D2 có nhắn tin qua lại hẹn cùng đi uống cà phê. Bị cáo Trương Ái D2 điều khiển xe mô tô hiệu VISION biển số 94E1- 455.47 từ nhà đến ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu để rước bị cáo Lê Quốc P. Khi đến, Trương Ái D2 giao xe mô tô hiệu VISION biển số 94E1 – 455.47 cho bị cáo Lê Quốc P điều khiển. Bị cáo Lê Quốc P điều khiển xe chở chị D2 đi đến quán C (không nhớ tên quán) trên đường Q thuộc xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu để uống nước. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo Lê Quốc P nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của chị D2, bị cáo Lê Quốc P nói với chị D2 có người bạn rủ về C chơi. Đồng thời, bị cáo Lê Quốc P kêu chị D2 lên xe để P chở về C. Khi đến khu vực Quản lộ P thuộc ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Lê Quốc P dừng xe trước quán cà phê Thanh H rồi kêu chị D2 vào quán uống cà phê để bị cáo Lê Quốc P đi gặp bạn chút nữa sẽ quay lại, do tin tưởng chị D2 đồng ý. Bị cáo Lê Quốc P điều khiển xe mô tô hiệu VISION biển số 94E1- 455.47 của chị Trương Ái D2 đi đến huyện B, tỉnh Bình Dương, bán cho một thanh niên lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 3.000.000 đồng đã sử dụng chỉ xài cá nhân. Sau khi liên lạc với bị cáo Lê Quốc P nhiều lần không nghe máy, biết mình bị lừa, ngày 15/11/2023 chị Trương Ái D2 đến Công an xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, trình báo sự việc.

Ngày 23/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Quyết định khởi tố bị can và Quyết định truy nã đối với bị cáo Lê Quốc P. Đến ngày 03/6/2024 Lê Quốc P ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐ ĐGTS, ngày 30/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, biển kiểm soát 94E1 – 455.47, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 09/11/2023 có giá trị: 21.508.564 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 23/CT-VKS - HS ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long đã truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát;

Bị hại đồng ý quan điểm của Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, với bản tính xem thường pháp luật, vào khoảng 16 giờ ngày 09/11/2023 bị cáo Lê Quốc P nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 94E1-455.47 của chị Trương Ái D2. Bị cáo Lê Quốc P đưa ra thông tin gian dối “có người bạn rủ về C chơi và kêu chị D2 vào quán uống cà phê để bị cáo Lê Quốc P đi gặp bạn chút nữa sẽ quay lại, do tin tưởng chị D2 đồng ý. Bị cáo Lê Quốc P điều khiển xe đến huyện B, tỉnh Bình Dương, bán cho một thanh niên lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 3.000.000 đồng sử dụng chỉ xài cá nhân. Tài sản qua định giá có giá trị còn lại là 21.508.564 đồng.

[2.2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và thực hiện đến hoàn thành tội phạm với lỗi cố ý. Bị cáo lợi dụng lòng tin của bị hại, bị cáo dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin sai sự thật để chiếm đoạt tài sản của bị hại và đem bán lấy tiền chi xài cá nhân, hành vi trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đưa ra mức hình phạt là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc xảy ra, người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội đầu thú đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nhưng tình hình tội phạm trên địa bàn huyện đang diễn biến phức tạp, đặc biệt liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản của người khác bằng nhiều hình thức khác nhau nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để hạ khung hình phạt cho bị cáo. Đồng thời cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm mang tính răng đe đối với bản thân của bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 19.508.500 đồng (Tiền thiệt hại 21.508.564 đồng – 2.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả; còn lại số tiền là 19.508.500 đồng) bị cáo và bị hại đã thống nhất được số tiền bồi thường nên áp dụng Điều 584, 589 Bộ luật dân sự; Ghi nhận ý chí tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và bị hại buộc bị cáo phải trả cho các bị hại tổng số tiền là 19.508.500 đồng.

[2.5] Về xử lý vật chứng: : 01 xe mô tô BKS 94El-455.47, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6] Đối với người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua xe mô tô biển số 94E1- 455.47 số tiền 3.000.000 đồng do Lê Quốc P bán, theo lời khai của Lê Quốc P người này không biết là tài sản phạm tội mà có, chưa làm việc được với người thanh niên này, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xet.

[2.7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 975.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Từ những phân tích nêu trên, xét lời luận tội của kiểm sát viên tham gia phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Quốc P phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” .

Xử phạt bị cáo Lê Quốc P 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 03 tháng 6 năm 2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Lê Quốc P phải bồi thường cho bị hại Trương Ái D2 tổng số tiền 19.508.500 đồng.

“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015”.

3. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Quốc P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 975.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Án xử sơ thẩm hình sự công khai có mặt bị cáo, bị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện KSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - CQĐT Công an huyện Phước Long;
  • - Phòng HSNV công an Phước Long;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ VĂN ĐẸP

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HSST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 25/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 09 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger