Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS - PT

Ngày: 16 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Công Đoàn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thuỷ và bà Vũ Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 16/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam mở phiên toà xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/HSPT ngày 04/3/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn S và Lê Văn H, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn S, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố Bảo L 1, phường Thanh Ch, thành phố Phủ L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ D và bà Đinh Thị T; vợ: Nguyễn Thị T; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 25/4/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” đã chấp hành xong bản án ngày 21/01/2017.
  • Ngày 07/8/2006, bị Công an phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Ngày 25/6/2014, bị Công an phường Hai Bà Trưng, thành phố Phủ Lý xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Ngày 07/5/2018, bị Công an phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”.
  • Ngày 14/6/2021, bị Công an thành phố Phủ Lý xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam T16 Bộ Công an, có mặt.

  1. Lê Văn H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ dân phố 3, phường Hòa M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu Ch (đã chết) và bà Phạm Thị L; vợ: Nguyễn Nữ Phương C; con: Có 05 con, lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền sự: Không.
  • Nhân thân: Ngày 24/12/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 03 tháng tù giam về tội “Không cứu giúp người khác trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng”
  • Tiền án: Ngày 26/11/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” bị cáo chưa thi hành án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H: Ông Nguyễn Văn Thịnh - Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Thịnh thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; địa chỉ: Số 162A ngõ 193, đường Phú Diễn, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; có mặt.

Các bị cáo không có kháng cáo:

  • Vũ Trung H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn Đình H, xã Thanh Th, huyện Thanh L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • Đỗ Thu Th, sinh năm 2002; nơi ĐKHKTT: Thôn Vỹ Khách C, xã Liêm T, huyện Thanh L, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: Phòng 0922, tòa S1- 09, khu đô thị Vinhome Ocean Park, xã Đa T, huyện Gia L, thành phố Hà N; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo:

  • Chị Bùi Linh Ch, sinh năm 2003; nơi cư trú: Thôn An Nạp, xã An Ch, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
  • Chị Nguyễn Phương Minh H, sinh ngày 07/02/2007; nơi cư trú: Thôn Kim Châu 2, xã An Ch, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1968 (là bố đẻ chị H); trú tại: Thôn Kim Ch, xã An Ch, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình; đều vắng mặt.
  • Anh Xia X (tên phiên âm tiếng việt Xia X), sinh năm 1992; trú tại: Bản Thông Pè, huyện Khăm C, tỉnh Borikhamxay (Bo Ly Khăm Xay) nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, vắng mặt.
  • Anh Phạm Duy Th, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số 288 Nguyễn Xiển, phường Tân Tr, huyện Thanh Tr, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 15/12/2022, Nguyễn Văn S rủ Xia Xồng và Vũ Trung H đi hát karaoke. S nhắn tin cho Đỗ Thu Th nói cần 03 nhân viên về Hà Nam chơi với S, S sẽ trả tiền công thì Th đồng ý. Th gửi ảnh của Bùi Linh Ch và Nguyễn Phương Minh H cho S xem và hỏi S có đặt “combo” với giá 8.000.000 đồng không ý Th nói với S gói “combo” tức là đi tiếp khách, ngồi sử dụng ma túy và quan hệ tình dục cùng khách thì S đồng ý. Do trước đó Th, Ch và H đã nhiều lần đi hát karaoke và tiếp khách, sử dụng ma túy, quan hệ tình dục cùng khách nên khi Th rủ Chvà H về Hà Nam cùng Th chơi và cho Ch, H xem tin nhắn giữa S và Th về việc S đặt “combo”, cả Ch và H đều hiểu ý Th rủ về Hà Nam chơi là tiếp khách, sử dụng ma túy và quan hệ tình dục cùng khách nên đồng ý.

Khoảng 01 giờ ngày 16/12/2022, S điều khiển xe ô tô chở Xia Xồng và Vũ Trung H đến nút giao Vực Vòng trên đoạn cao tốc Hà Nội - Ninh Bình để đón Th, H, Ch sau đó cả 6 người cùng đến quán karaoke Lê Gia tại phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Khi vào quán karaoke Lê Gia, S gặp Lê Văn H. S, Xia Xồng, Vũ Trung H, Th, H và Ch lên phòng hát số 2 ở tầng 4 do S thuê. Hát được khoảng 01 tiếng thì S bảo mọi người dừng hát để sử dụng ma túy. S lấy từ túi áo ra 10 viên ma túy tổng hợp thường gọi là “kẹo” màu tím đưa cho Vũ Trung H để chia cho Th, H, Ch và Vũ Trung H mỗi người 01 viên sử dụng bằng cách uống. Sau đó Vũ Trung H đưa lại túi ma túy “kẹo” cho S, S lấy ra 01 viên sử dụng sau đó cho số còn lại vào túi quần. Khoảng 01 tiếng sau thì S lấy ketamine từ túi áo ra để mọi người cùng sử dụng. S đổ khoảng 1/3 số ketamine trong túi lên một đĩa sứ, hình tròn, màu trắng có sẵn trong phòng hát rồi lấy thẻ sim điện thoại và bật lửa mang theo sẵn trong người ra “xào” ketamine cho ketamine chuyển thành dạng bột mịn, sau đó dùng thẻ sim chia số ketamine trên đĩa thành nhiều đường dài, thẳng, nhỏ. S lấy tờ tiền polyme có sẵn trong người, cuộn thành ống để hít ketamine vào mũi. Sau khi hít, S đưa đĩa ketamine đã “xào” mời Vũ Trung H, Chi, Th, H sử dụng, riêng Xia Xồng không sử dụng. Sau đó Lê Văn H sang phòng của nhóm S giao lưu, S mời Lê Văn H sử dụng ketamine và Lê Văn H đã sử dụng. Sau đó S sang phòng Lê Văn H giao lưu, còn Vũ Trung H mời Th, Chi, H ở lại phòng tiếp tục sử dụng ketamine còn trên đĩa. Sau đó, Lê Văn H đi sang phòng hát của nhóm S và ngồi cạnh Th, Lê Văn H lấy đĩa ketamine S đã xào sẵn từ trước để trên mặt bàn và mời Th sử dụng, Lê Văn H cầm đĩa ketamine rồi đưa ống hút cho Th để Th hít ketamine vào mũi, Th sử dụng xong thì đưa ống hút cho Lê Văn H. S lấy túi hồng phiến trong người đưa cho Vũ Trung H, đưa giấy bạc cho Vũ Trung H để Vũ Trung H đốt 5 - 6 viên hồng phiến cho cả nhóm sử dụng. Th, H, Chkhông sử dụng do không chịu được mùi hồng phiến nên đi vào phòng để nghỉ.

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi cả nhóm gồm S, Vũ Trung H, Th, H, Ch về nhà S. S bỏ ít ketamine không sử dụng hết tại quán vừa mua được ra “xào” rồi đưa cho Vũ Trung H, Th, H dùng thử sau đó đi xuống tầng 2 ngủ còn Vũ Trung H ở lại dùng ketamine do S xào sẵn và mời Th, H sử dụng.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, Lê Văn H rủ Th, D và Q cùng đến nhà S chơi. S biết Lê Văn H đến thì lên tầng 3 ngồi chơi với Vũ Trung H, Lê Văn H, Th, D, Q. Tại đây, S lấy 01 đĩa sứ khác bỏ ketamine đã để sẵn ở cH vào đĩa “xào” ma tuý và mời mọi người sử dụng, sau đó Th lấy hồng phiến của S để sẵn ở chỗ đốt lên mời từng người sử dụng bằng cách sử dụng bình nhựa do Vũ Trung H đã chuẩn bị sẵn từ trước, Vũ Trung H tự đốt hồng phiến để sử dụng. Sau khi sử dụng hồng phiến được một lúc thì Th, D, Q đi về. Trước đó Lê Văn H đã nhắn tin rủ Th lên tầng 3 chơi cùng H. Vào phòng ngủ tầng 3, Th ngồi cạnh Lê Văn H, H ngồi cạnh S, S lấy đĩa ketamine đã xào sẵn hít vào mũi, sau đó mời H sử dụng. Lê Văn H lấy đĩa ketamine sử dụng bằng cách kẻ 02 đường để hít vào mũi, rồi kẻ tiếp 02 đường mời Th sử dụng. Tiếp đó cả 4 cùng ngồi nghe nhạc. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Vũ Trung H vừa ra khỏi cửa nhà S để đi mua cơm thì bị tổ công tác của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Bộ Công an phối hợp với Công an tỉnh Hà Nam kiểm tra và bắt quả tang S, Lê Văn H, Th và H đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

  • Thu trên chiếu ở phòng ngủ tầng 3: 01 túi nilon màu xanh có kẹp nhựa viền đỏ kích thước khoảng 07 x 08cm, bên trong có 81 viên nén màu hồng và 01 túi nilon màu tím có kẹp nhựa viền đỏ kích thước khoảng 06 x 08cm bên trong có 147 viên nén màu hồng, tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 03 túi nilon màu trắng miệng túi có kẹp nhựa viền đỏ kích thước đều khoảng 05 x 07cm bên trong các túi đều có chất tinh thể màu trắng tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02; 01 đĩa sứ màu trắng đường kính khoảng 22 cm và 01 đĩa sứ màu trắng đường kính khoảng 18 cm, trên mặt đĩa có 03 ống hút được cuộn bằng các tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 20.000 đồng, 50.000 đồng; trên mặt mỗi đĩa đều có thẻ nhựa cứng màu xanh và chất tinh thể màu trắng, các chất tinh thể màu trắng được cho vào túi nilon có kích thước khoảng 07 x 10cm có kẹp nhựa viền đỏ và niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03; 02 đĩa sứ, 03 ống hút, 02 thẻ nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT04; 01 mảnh giấy bạc kích thước khoảng 02 x15cm, trên mặt có bám dính chất màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT05; 01 bình nhựa không rõ hình, trên thân bình có gắn 01 ống nhựa vỏ bút bi nối vào 01 ống tre, trên miệng bình gắn 01 ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT13.
  • Thu trên nền nhà góc tường phòng ngủ tầng 3: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 02 x 05cm có kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong có chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT06.
  • Thu trong tủ gỗ trong phòng ngủ tầng 3: 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ kích thước khoảng 05 x 10cm bên trong có 80 viên nén màu tím; 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ kích thước khoảng 04 x 07cm bên trong có chất bột màu tím; 01 túi nilon trong suốt, miệng túi kẹp nhựa viền màu đỏ kích thước khoảng 06 x 12cm bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 hộp nhựa màu trắng hình chữ nhật kích thước khoảng 3 x 5 x 7cm bên trong có 30 viên nén dạng con nhộng màu trắng, tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT07.
  • Thu giữ của Nguyễn Văn S: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng, kèm theo sim số thuê bao 0352823456; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím đã qua sử dụng.
  • Thu giữ của Vũ Trung H: 01 điện thoại di động màu vàng bị vỡ màn hình, số thuê bao 0333861460.
  • Thu giữ của Lê Văn H: 01 điện thoại di động màu vàng đã qua sử dụng, kèm sim thuê bao số 0972889999.
  • Thu giữ của Đỗ Thu Th: 01 điện thoại di động màu xanh đã qua sử dụng, kèm 01 sim thuê bao số 0345451702.
  • Thu giữ của Nguyễn Phương Minh H: 01 điện thoại di động màu xanh, mặt sau bị vỡ, kèm 01 sim thuê bao số 0865543614.

Ngày 19/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an ra Quyết định số 98 Trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định chất ma túy có trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn S, Bùi Linh Chi, Đỗ Thu Th, Vũ Trung H, Nguyễn Phương Minh H, Lê Văn H, Chùa Xông, Túa Xông, Xia Xồng, Nguyễn Thị Tâm.

Tại Bản kết luận giám định số 8838/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Tìm thấy các chất ma túy Methamphetamine, MDMA và Ketamine trong các mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn S, Bùi Linh Chi, Đỗ Thu Th, Vũ Trung H, Nguyễn Phương Minh H và Lê Văn H; Tìm thấy các chất ma túy Methamphetamine và Ketamine trong mẫu nước nước tiểu thu của Chùa Xông; tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước nước tiểu thu của Túa Xông và Xia Xồng; tìm thấy các chất ma túy Morphine và Codeine trong mẫu nước nước tiểu thu của Nguyễn Thị Tâm vợ của Nguyễn văn S.

Tại Bản kết luận số 8839/KL-KTHS ngày 10/02/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

  • Các viên nén màu hồng trong niêm phong ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu như sau:
Kí hiệu mẫu Tổng khối lượng (gam) Khối lượng trung bình/viên (gam/viên)
QT01 81 viên 9,005 0,092
147 viên 13,240
  • Tinh thể màu trắng trong các niêm phong kí hiệu QT02, QT03 và QT06 gửi giám định là ma túy; loại Ketamine. Khối lượng mẫu như sau:
Kí hiệu mẫu QT02 QT03 QT06
Khối lượng (gam) 03 túi 01 túi 01 túi
5,545 2,207 1,703
  • Mẫu trong niêm phong ký hiệu QT04 gửi giám định: Tìm thấy Ketamine trong mẫu chất màu trắng bám dính trên: 02 đĩa sứ màu trắng; Các ống hút được cuộn bằng các tờ tiền mệnh giá 10.000, 20.000, 50.000 VNĐ; 02 thẻ nhựa cứng màu xanh. Lượng bám dính rất nhỏ, không xác định được khối lượng mẫu.
  • Tìm thấy Ketamine trong mẫu chất màu đen bám dính trên mảnh giấy bạc trong niêm phong kí hiệu QT05 gửi giám định, lượng mẫu bám dính rất nhỏ, không xác được khối lượng mẫu.
  • Mẫu trong phong bì ký hiệu QT07: 80 viên nén màu tím, chất bột màu tím trong túi nilon và chất bột màu tím trong 30 viên hình con nhộng gửi giám định là ma túy; loại MDMA. Tổng khối lượng mẫu như sau:
Kí hiệu mẫu Tổng khối lượng (gam) Khối lượng trung bình/viên (gam/viên)
QT07 80 viên nén 31,086 0,389
Chất bột tím (01 túi nilon) 8,317
30 viên nhộng 12,180 0,476
  • Chất bột màu trắng trong túi nilon gửi giám định là ma túy; loại Ketamine. Khối lượng mẫu: 87,271 gam.
  • Mẫu trong niêm phong ký hiệu QT13 gửi giám định: Tìm thấy Methamphetamine bám dính trên 01 bình nhựa, trên thân gắn 01 ống hút bằng vỏ nhựa bút bi nối vào 01 ống bằng tre, trên miệng bình gắn 01 ống nhựa. Lượng bám dính rất nhỏ, không xác định được khối lượng mẫu.

Ngày 16/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Văn S, chỗ ở của ông Nguyễn Sỹ D. Quá trình khám xét thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu liên quan, cụ thể như sau: Tại số nhà 264, đường Lý Thái Tổ thuộc tổ dân phố Trần Phú, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý, thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu Santafe, màu đỏ, biển kiểm soát 90A-193.86; tại nhà ông Nguyễn Sỹ D ở tổ dân phố Bảo Lộc 1, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, thu giữ khoảng 10 kg Ketamine, 08 bịch Hồng phiến khoảng hơn 4 kg, 02 cân điện tử, 01 khẩu súng, 27 viên đạn, 280 triệu đồng và các giấy tờ, tài liệu khác có liên quan; tại nhà của Nguyễn Văn S không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ L, tỉnh Hà Nam quyết định:

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50; Điều 47 (đối với S, Vũ Trung H, Th); điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 (đối với S); điểm t khoản 1 Điều 51 (đối với Vũ Trung H); điểm n, t khoản 1 Điều 51 (đối với Th) của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật Hình sự đối với Lê Văn H.

Căn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Vũ Trung H, Đỗ Thu Th, Lê Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt:

  • Nguyễn Văn S 13 (Mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
  • Vũ Trung H 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2022.
  • Đỗ Thu Th 11 (Mười một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
  • Lê Văn H 11 (Mười một) năm tù, tổng hợp với hình phạt của bản án số 51/2021/HS-PT ngày 26 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình là 02 (hai) năm tù. Buộc Lê Văn H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 13 (Mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2022.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Ngày 30/01/2024, bị cáo Lê Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Văn H giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Ngày 05/02/2024, bị cáo Nguyễn Văn S kháng cáo toàn bộ bản án. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn S thay đổi kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn H; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 08 (Tám) năm đến 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tổng hợp hình phạt chung của hai bản án.

Quan điểm của Luật sư Nguyễn Văn Thịnh bào chữa cho bị cáo Lê Văn H tại phiên toà: Nhất trí về tội danh như bản án sơ thẩm đã tuyên, đối với hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bởi trong vụ án này bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu, bị cáo chỉ bị truy tố về một tình tiết định khung, bản thân bị cáo rất tích cực trong việc hỗ trợ chính quyền địa phương trong công tác phòng chống Covid 19; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ, mẹ già. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung đơn kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn S và Lê Văn H kháng cáo trong thời hạn luật định, đơn thể hiện đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn S và Lê Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng và bản án sơ thẩm. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định về ma tuý; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 01 giờ đến 12 giờ ngày 16/12/2022 tại phòng hát số 2, tầng 4, quán karaoke Lê Gia thuộc phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam các đối tượng Nguyễn Văn S, Vũ Trung H, Lê Văn H, Đỗ Thu Th đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. S là người chuẩn bị ma túy, địa điểm, dụng cụ, phương tiện sử dụng ma túy và cùng Vũ Trung H thực hiện hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể Lê Văn H, Xia Xồng, Đỗ Thu Th, Bùi Linh Ch và Nguyễn Phương Minh H; Lê Văn H thực hiện hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể Th.

Trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 17 giờ 30 phút ngày 16/12/2022 tại nhà ở của Nguyễn Văn S tại số nhà 264 đường Lý Thái Tổ, tổ dân phố Trần Phú, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý. S, Vũ Trung H, Lê Văn H đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. S là người chuẩn bị ma túy, địa điểm và cùng Vũ Trung H chuẩn bị dụng cụ, phương tiện sử dụng ma túy thực hiện hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể Đỗ Thu Th, Nguyễn Phương Minh H, Lê Văn H, Th, D, Q. Lê Văn H có hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể Th.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự địa phương. Như vậy, bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:

  • Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã từng bị kết án và bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần đến nay tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội mới, phạm tội lần sau nguy hiểm hơn lần trước. Khi lượng hình Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 13 (Mười ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không đưa ra được các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới ngoài các tình tiết đã được cấp sơ thẩm xem xét. Do vậy đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
  • Đối với kháng cáo của bị cáo Lê Văn H, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, tuy nhiên trong vụ án này bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu. Khi lượng hình Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn H 11 (Mười một) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội; tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo xuất trình thêm 02 đơn xác nhận bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang phải nuôi mẹ già và 05 con còn nhỏ, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương và biên lai đóng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Đây là tình tiết mới do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội cũng như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên toà. Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:

  • Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S không được chấp nhận nên phải chịu theo quy định.
  • Kháng cáo của bị cáo Lê Văn H được chấp nhận nên không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn S; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 26/01/2024 của Toà án nhân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn H; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 26/01/2024 của Toà án nhân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam về phần hình phạt.

Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 47, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn S.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, Điều 17, Điều 38, Điều 47, Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn H.

Áp dụng các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với tất cả các bị cáo.

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S và Lê Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Văn S 13 (Mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
  • Bị cáo Lê Văn H 08 (Tám) năm tù, tổng hợp với hình phạt của bản án số 51/2021/HS-PT ngày 26 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình là 02 (hai) năm tù. Buộc Lê Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2022.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

  • Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng.
  • Bị cáo Lê Văn H không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh Hà Nam;
  • - TAND, VKSND thành phố Phủ Lý;
  • - Công an thành phố Phủ Lý;
  • - Chcục THADS thành phố Phủ Lý;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Luật sư;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Công Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-PT ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 25/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 01 giờ đến 12 giờ ngày 16/12/2022 tại phòng hát số 2, tầng 4, quán karaoke Lê Gia thuộc phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam các đối tượng Nguyễn Văn S, Vũ Trung H, Lê Văn H, Đỗ Thu Th đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. S là người chuẩn bị ma túy, địa điểm, dụng cụ, phương tiện sử dụng ma túy và cùng Vũ Trung H thực hiện hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể Lê Văn H, Xia Xồng, Đỗ Thu Th, Bùi Linh Ch và Nguyễn Phương Minh H; Lê Văn H thực hiện hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể Th.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger