TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HSPT-CTN Ngày 26 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Văn Hai
Các Thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng và ông Đào Chí Keo
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thanh Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Hải - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Minh C, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Minh C, sinh ngày 14/8/2007 tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 7/12; con ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1981 và bà Trần Thị H, sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/5/2024 cho đến nay (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1981 và bà Trần Thị H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Minh T - Trợ Giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).
Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 10/02/2024, Lê Hoài K tổ chức uống bia cùng với Nguyễn Minh C, Võ Minh N, Phạm Trọng H1, Nguyễn Văn V, Bùi Công T1, Lê Vĩnh T2 và Trần Thị Ngọc H2 tại nhà của K. Trong lúc uống bia, C điện thoại cho Trương Nguyễn Như T3 và phát sinh mâu thuẫn với Mai Gia H3.
Sau đó, C nói với K là H3 chửi K, nên K tức giận đi vào phòng ngủ trong nhà lấy cây dao bằng kim loại dài 53cm đi ra thì V, T1, T2, H2, Huỳnh can N1 nhưng không được. K kêu N điều khiển xe mô tô biển số 67AK-038.02 chở K cầm cây dao ngồi giữa, C ngồi sau hai tay cầm 03 vỏ chai bia “Lạc Việt” đi tìm đánh H3 và B. Khi đến trước nhà ông T4, K và C xuống xe đi lại nhóm H3 đang uống bia, K hỏi “Thằng nào là thằng đầu bon” thì H3 bỏ chạy. Lúc này, B đang đứng gần đó, K nhớ lại trước đây có mâu thuẫn với B và nghĩ B chơi chung với H3 nên K cầm dao xông lại chém B thì B cầm cây dao rựa bằng kim loại dài 1,08m của H3 để gần bàn uống bia giơ lên đỡ làm trúng vào khuỷu tay trái của B nên B đi lùi về phía sau, K tiếp tục chém từ trên xuống thì B giơ cây dao rựa lên đỡ bị vướng vào tấm màn bằng vải phía trước nhà chị Nguyễn Thị Cẩm G1 (cặp vách nhà ông T4) làm cây dao rựa rớt xuống trúng vào vùng đầu bên phải của K và B bị ngã xuống đất, K xông đến cầm cây dao chém khoảng 04 - 05 cái trúng lưng, mông, tay của B, thì Đ chạy đến ôm K can ngăn; còn C đứng ngoài lề đường cầm 02 vỏ chai bia ném về hướng của B nhưng không trúng, thì P đến ôm C can ngăn.
Tiếp đó, N xuống xe chạy đến dùng tay, chân đánh, đá nhiều cái vào người của B và N lấy 02 cái ghế nhựa màu đỏ (đang xếp chồng lên nhau) ở gần đó cầm lên đánh từ trên xuống trúng vào cánh tay trái của B, thì B bỏ chạy ra đường và bị K cầm dao chém khoảng 02 - 03 cái trúng vào vùng lưng. Lúc này, T5 chở G1 về đến nên G1 vào can ngăn thì N điều khiển xe chở K, C bỏ đi. Cùng lúc này, H3 lấy 02 cây chĩa 3 (bằng kim loại) dài 3,55m ở gần mé sông T (đối diện nhà T4) rượt theo để đánh K, C, N nhưng không kịp. Sau đó, B được đưa đến Trung tâm Y tế huyện P cấp cứu, điều trị đến ngày 13/02/2024 thì ra viện.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 166/24/KLTTCT-TTPY ngày 21/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, đối với Lê Hoài K: Sẹo thái dương phải, nằm xiên kích thước (1,5x0,3)cm; Sây sát da dạng thẳng mặt phải để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (2x0,2)cm; Sẹo mặt sau ngoài cổ tay trái, nằm xiên kích thước (2x0,2)cm; Sây sát da dạng thẳng mặt sau trong bàn tay trái phía ngón V để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (0,8x0,2)cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 03%. Thương tích trên do vật sắc gây nên.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 165/24/KLTTCT-TTPY ngày 24/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, đối với Mai Gia B: 02 vết sây sát da song song dạng thẳng vùng lưng phải, nằm ngang, để lại vết biến đổi sắc tố: Vết 01 kích thước (11x0,2)cm, vết 02 kích thước (9x0,1)cm; Sẹo vùng lưng phải cạnh cột sống, nằm xiên kích thước (2x0,2)cm; 02 vết sây sát da bả vai trái để lại vết biến đổi sắc tố: Vết 01 kích thước (2,5x0,3)cm, vết 02 kích thước (2x0,5)cm; Sây sát da dạng thẳng vùng lưng trái để lại sẹo, nằm xiên, kích thước (5x0,1)cm; Sẹo vùng mông trái, nằm xiên kích thước (7,5x0,3)cm; Sẹo mặt lòng vòng qua mặt lưng đốt 02 ngón I bàn tay phải kích thước (4,5x0,2)cm gây gãy dạng đứt đốt 02 ngón I bàn tay phải; Sẹo mặt lòng vòng qua mặt lưng liên đốt 2-3 ngón III bàn tay phải kích thước (5,5x0,2)cm gây gãy dạng đứt đốt 02 ngón III bàn tay phải; Mõm cụt đốt 02 ngón IV bàn tay phải; Sẹo dạng vát đốt 03 ngón V bàn tay phải kích thước (1,5x01)cm; Sẹo mặt sau ngoài khuỷu tay trái kích thước (8,5x0,3)cm, sẹo hơi lồi, hồng, bờ sắc; Sẹo mặt sau trong khuỷu tay trái kích thước (8,5x0,3)cm gây gãy dạng đứt bờ sau đầu trên xương trụ trái tương ứng với sẹo bên ngoài; Sẹo mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái kích thước (7,5x0,6)cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 22%. Thương tích trên do vật sắc gây nên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngày 26/9/2024, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Minh C vẫn khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức và hiểu biết pháp luật có phần hạn chế giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt giảm cho bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 và Điều 65 cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Minh C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ ngày 10/02/2024, Lê Hoài K tổ chức uống bia cùng với Nguyễn Minh C, Võ Minh N, Phạm Trọng H1, Nguyễn Văn V, Bùi Công T1, Lê Vĩnh T2 và Trần Thị Ngọc H2 tại nhà của K. Trong lúc uống bia, C điện thoại cho Trương Nguyễn Như T3 và phát sinh mâu thuẫn với Mai Gia H3.
Sau đó, C nói với K là H3 chửi K, nên K tức giận đi vào phòng ngủ trong nhà lấy cây dao bằng kim loại dài 53cm rồi kêu N điều khiển xe mô tô biển số 67AK-038.02 chở K cầm cây dao ngồi giữa, C ngồi sau hai tay cầm 03 vỏ chai bia “Lạc Việt” đi tìm đánh H3 và B. Khi gặp, K cầm dao xông lại chém B trúng vào khuỷu tay trái, lưng, mông và tay thì được Đ chạy đến can ngăn; còn C đứng ngoài lề đường cầm 02 vỏ chai bia ném về hướng của B nhưng không trúng. N lấy 02 cái ghế nhựa màu đỏ, cầm và đánh từ trên xuống trúng vào cánh tay trái của B thì được can ngăn. Hậu quả, qua giám định Mai Gia B có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 22%, do vật sắc gây nên.
Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Minh C và đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh C và đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của con người được pháp luật bảo vê, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[5] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý. Trong vụ án này, giữa bị hại với bị cáo không có mâu thuẫn gì, chỉ vì lời nói khích của bị cáo mà các bị cáo khác mang hung khí đánh nhau, gây thương tích cho bị hại 22% sức khỏe. Hành vi nêu trên của bị cáo thể hiện tính hung hăng, xem thường pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 02 năm tù, mức hình phạt khởi điểm khung là phù hợp.
[6] Đối với nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại thời điểm phạm tội, bị cáo mới 16 tuổi 06 tháng; đến thời điểm xét xử tuổi của bị cáo là 17 tuổi 03 tháng đều là người dưới 18 tuổi; bị cáo cũng chưa gây thương tích cho bị hại; trong vụ án có đồng phạm khác đã trên 18 tuổi, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bằng mức hình phạt tù với bị cáo là chưa phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự và bị cáo đã thực sự hối hận và quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, thể hiện có khả năng tự cải tạo nên việc bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù là không cần thiết.
Do đó, nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Cần áp dụng thêm Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo về giảm mức hình phạt tù và xin hưởng án treo của bị cáo.
Tại phiên tòa, đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát không đồng nhất với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận nội dung đơn kháng cáo về phần trách nhiệm hình sự của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điền 54; Điều 58; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 26/11/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Minh C cho UBND xã P, huyện P, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách tại địa phương nếu bị cáo Nguyễn Minh C cố ý vi phạm nghĩa vụ công dân 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định chuyển án treo thành tù giam, buộc bị cáo phải chấp hành.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Minh C không phải chịu án phí hình sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
(Đã giải thích chế định án treo)
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Hai |
Bản án số 25/2024/HSPT-CTN ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 25/2024/HSPT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Minh Chương yêu cầu xin được hưởng án treo
