|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 31-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị The
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Bùi Văn Tỉnh
Ông Nguyễn Văn Hải
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Duy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 và ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2024/TLHS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lê Thị Minh L, sinh năm 1970 tại tỉnh Long An; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và C ở hiện nay: Áp B, xã V, huyện V, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Cha: Lê Văn G, sinh năm 1930 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1936; Chồng: Nguyễn Tấn H1 (đã chết); có 02 người con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Không có vần đề gì cần ghi nhận; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2024 đến ngày 20/5/2024. (Có mặt)
- Hà Thị Q, sinh năm 1982 tại tỉnh Hà Tĩnh; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và C ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Hà Thừa Q1, sinh năm 1951 (đã chết); Mẹ: Trần Thị T, sinh năm 1951; Chồng: Nguyễn Hữu Đ; Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Không có vần đề gì cần ghi nhận; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2024 đến ngày 20/5/2024. (Có mặt)
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1982 tại tỉnh Tây Ninh; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: 3/374, Tổ A, khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Cha: Không xác định; Mẹ: Nguyễn Thị C1 (đã chết); Chồng: Ngô Chí T1 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 người con sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Không có vần đề gì cần ghi nhận; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay. (Có mặt)
- Người bị hại:
- Ông Lê Văn H2, sinh năm 1957. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1973. Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Minh L, sinh năm 1970 cư trú Ấp B, xã V, huyện V, thấy 01 Dinamo phát điện công suất 10kw của ông Lê Văn H2 để trong Trạm cấp nước (phía trước trạm cấp nước gắn bảng hiệu là “Trụ sở Ban quản lý chợ B”) thuộc ấp B, xã T, huyện V, không người trông giữ nên nảy sinh ý định lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 07/3/2024, L lén lút lấy một xe đẩy 02 bánh của ông Nguyễn Văn T2 (ở gần nhà L) đang để cặp bờ sông, để đi lấy trộm Dinamo. Khi đến nơi, L không nâng nổi D lên xe đẩy nên trở về nhà thì gặp Hà Thị Q, sinh năm 1982 (em dâu L) và Nguyễn Thị N, sinh năm 1982 (đang sống chung như vợ chồng với con trai L). L rủ Q và N trộm cắp D, N và Q đồng ý.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày L, Quyền, N đi bộ đến trạm cấp nước, L giữ xe đẩy, N và Q đi vào bên trong lấy Dinamo ra, cả 03 cùng nâng D lên xe đẩy, L đẩy xe chở D đi cất giấu để hôm sau bán. N, Q về nhà lấy xe mô tô đi thị trấn V. Lý đẩy xe đi trên đường T đến cụm dân cư Ấp B, xã V (cách nơi lấy trộm khoảng 500m) thì xe bị ngã, D rơi xuống đường lộ 831, Lý không nâng lên nổi nên đứng chờ khoảng 15 phút, Q, N từ thị trấn V về thấy L nên đến để phụ nâng D lên xe đẩy. Lúc này, ông Nguyễn Văn M đi đến nghi ngờ L, N, Q đã trộm cắp nên không cho đưa D lên xe đẩy và nói sẽ báo công an đến giải quyết. N và Q lên xe mô tô chạy đi, L đi bộ về nhà.
Khoảng 15 phút sau thì L đi bộ lại lấy xe đẩy trả về vị trí cũ cho ông T2, D vẫn nằm trên đường T. Đến ngày 11/3/2024, ông H2 đến Công an xã T trình báo mất 01 máy Dinamo phát điện, Công an xã mời L, N, Q lên làm việc. Tại Công an xã T cả 03 thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 14/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V xác định giá trị của 01 Dinamo phát điện công suất 10kw điện thế 220v tại thời điểm định giá ngày 11/3/2024 là 4.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐG ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V xác định giá trị của 01 xe đẩy 02 bánh tại thời điểm định giá ngày 07/3/2024 là 650.000 đồng.
Ngày 20/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Thị Minh L, Hà Thị Q, Nguyễn Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại Cáo trạng số 21/CT-VKSVH ngày 05/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng truy tố bị cáo Lê Thị Minh L, Hà Thị Q, Nguyễn Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Thị Minh L, Hà Thị Q, Nguyễn Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Minh L từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Thị Q từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 04 tháng 13 ngày, căn cứ Điều 328 bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Cáo trạng, tội danh, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với Cáo trạng, các kết luận định giá, lời khai của những người bị hại, người làm chứng, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/3/2024, tại Trạm cấp nước ấp B, xã T, huyện V, Lê Thị Minh L cùng Hà Thị Q, Nguyễn Thị N đã lén lút lấy trộm 01 Dinamo phát điện công suất 10kw có giá trị 4.000.000 đồng của ông Lê Văn H2 để lên xe đẩy 02 bánh, L đẩy xe mang Dinamo đi cất giấu hôm sau bán lấy tiền tiêu xài. Trên đường đi do xe ngã, D rơi trên đường T và bị phát hiện nên bỏ lại Dinamo. Ngày 11/3/2024, khi bị Công an xã T mời làm việc cả ba thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Khoảng 21 giờ ngày 07/3/2024 tại ấp B, xã T, huyện V Lê Thị Minh L đã lén lút lấy 01 xe đẩy 02 bánh có giá trị 650.000 đồng của ông Nguyễn Văn T2, để làm phương tiện chở D trộm cắp đi cất giấu. Sau khi bị ông Nguyễn Văn M phát hiện L, Q và N bỏ lại Dinamo ở đường tỉnh 831, L mang xe đẩy về trả cho ông T2.
[3] Các bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, giá trị tài sản Dinamo do các bị cáo L, N, Q thực hiện hành vi trộm cắp có giá trị 4.000.000 đồng và chiếc xe đẩy do bị cáo L trộm cắp có giá trị 650.000 đồng. Hành vi này của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 21/CT-VKSVH ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử lý nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong vụ án có 03 bị cáo nhưng không phải là trường hợp phạm tội có tổ chức mà là đồng phạm giản đơn nên cần phân tích làm rõ vai trò của từng bị cáo và xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng cho từng bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Đối với bị cáo Lê Thị Minh L là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Q và bị cáo N cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản D và bị cáo đã 01 mình thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe đẩy làm phương tiện để di chuyển D nên bị cáo thực hiện với vai trò chính là người thực hành. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, lần phạm tội này là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ích nghiêm trọng, sau khi bị cáo Lê Thị Minh L bị phát hiện bị cáo đã trả về vị trí cũ cho ông Nguyễn Văn T2 và bị cáo có cha là liệt sĩ nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Đối với bị cáo Hà Thị Q và Nguyễn Thị N thì sau khi nghe bị cáo Lê Thị Minh L rủ rê đi trộm Dinamo thì đồng ý ngay và đã cùng bị cáo L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản D nên các bị cáo thực hiện với vai trò là người thực hành. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, lần phạm tội lần này thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Xét bị cáo Lê Thị Minh L và Hà Thị Q có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo thành người tốt. Đối với Nguyễn Thị N đã bị tạm giam thời gian 04 tháng 13 ngày, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự áp dụng dưới mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành người tốt nên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa theo Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả cho những người bị hại gồm: Trả lại cho ông Lê Văn H2 01 Dimamo phát điện công suất 10kw điện thế 220v đã qua sử dụng; Trả cho ông Nguyễn Văn T2 01 xe đẩy 02 bánh đã qua sử dụng là đúng quy định.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu gì nên Tòa án không xem xét.
[11] Về án phí: Bị cáo Lê Thị Minh L có cha là liệt sĩ và xin miễn tiền án phí nên căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí cho bị cáo L. Bị cáo Hà Thị Q và bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Minh L, Hà Thị Q, Nguyễn Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Minh L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án (31/7/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo Lê Thị Minh L có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hà Thị Q 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án (31/7/2024)
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo Hà Thị Q có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 04 (bốn) tháng 13 (mười ba) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam là ngày 21/3/2024.
Căn cứ Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Thị N tại phiên tòa.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự cho bị cáo Lê Thị Minh L.
Buộc các bị cáo Hà Thị Q, Nguyễn Thị N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị The |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Minh L, Hà Thị Q, Nguyễn Thị N phạm tội "Trộm cắp tài sản"
