|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HS-ST
Ngày: 28/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Ngọc Minh và bà Lê Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: ông Lê Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
Phùng Tấn L (Nho) - Sinh ngày: 06-8-1986, tại Ninh Thuận. Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Phùng Danh (Đã chết); Mẹ: Hồ Thị H, sinh năm 1954; Vợ: Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1986 (Đã ly hôn); Có 01 người con, sinh năm 2010.
Tiền án: Ngày 09/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 03 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/2022, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B – Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 02-4-2024, Công an xã A phối hợp với Ban Q, xã A tiến hành kiểm tra nơi ở của Phùng Tấn L. Qua kiểm tra, tại phòng ngủ của L phát hiện và tạm giữ 03 (ba) ống thủy tinh, trong đó có 01 (một) ống thủy tinh dạng một đầu thẳng và một đầu có dạng hình phễu tròn, 02 (hai) ống thủy tỉnh còn lại dạng thẳng; 01 (một) chai nhựa có gắn ống nhựa trên nắp chai. L khai nhận đây là dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra L còn khai nhận cất giấu ma túy đá trong nhà nhằm mục đích sử dụng. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyên N đã tiến hành lệnh khám xét chỗ ở của L và phát hiện 06 gói nilon nhựa hàn kín hai đầu chứa chất tinh thể màu trắng đựng trong hộp kim loại để trong hộp đựng đũa trong phòng bếp. Quá trình điều tra L1 khai nhận khoảng cuối tháng 02-2024 cần ma túy để sử dụng nên đã đến khu vực huyện T, tỉnh Bình Thuận mua ma túy dạng “đá” với giá 1.000.000 đồng của một người không rõ lai lịch. Sau đó đem về nhà chia ra cất giấu trong nhà để sử dụng dần, chưa sử dụng hết thì bị phát hiện.
Tại Kết luận giám định số 103 ngày 07-4-2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- - Chất rắn màu trắng bên trong 06 gói nilon tạm giữ của Phùng Tấn L là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,7649g.
- - Trong mẫu vật tạm giữ của Phùng Tấn L: 03 (ba) ống thủy tinh, trong đó có 01 (một) ống thủy tinh dạng một đầu thẳng và một đầu có dạng hình phễu tròn, 02 (hai) ống thủy tinh còn lại dạng thẳng; 01 (một) chai nhựa có gắn ống nhựa trên nắp chai, qua giám định không có chất ma túy.
Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS-HS ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận truy tố: Phùng Tấn L2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước giữ nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo theo bản cáo trạng. Đề nghị Tòa án tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Phùng Tấn L từ 2 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/4/2024. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh. Về hình phạt theo đề nghị của Viện kiểm sát bị cáo tranh luận là nghiêm khắc. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng tuy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: bị cáo Phùng Tấn L cất giấu 06 gói nilon chất ma túy loại Methamphetamine có trọng lượng là 0.7649g nhằm mục đích để sử dụng . Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là có căn cứ.
[3]. Bị cáo có một tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4]. Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma tuy, chấp hành xong hình phạt lại tiếp tục phạm tội về ma túy nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng để răn đe, giáo dục các bị cáo ý thức chấp hành pháp luật và các quy tắc của cuộc sống đồng thời các tác dụng đấu tranh và phòng chống tội phạm. Xét mức hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là tương xứng với tính chất, mức độ, các tình tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó, bị cáo tranh luận đề nghị xem xét mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là không có căn cứ chấp nhận.
[5] Về biện pháp tư pháp: Đối với số lượng ma túy còn lại sau giám định, các vật dụng dùng vào việc sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; đối với điện thoại di động hiệu OPPO P1s thu giữ của L không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[6]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Đối với một người đàn ông ở T, Bình Thuận (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Phùng Tấn L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã thông báo bằng văn bản đến Công an huyện T, tỉnh Bình Thuận để điều tra, xác minh xử lý theo thẩm quyền là phù hợp; Đối với bà Hồ Thị H là mẹ ruột của bị cáo không biết bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của mình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không xử lý đối với bà H là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố:
Bị cáo Phùng Tấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phùng Tấn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/4/2024.
* Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- - Trả lại 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1s màu vàng hồng, số IMEI 1: 86421203481031; số IMEI 2: 86421203481023 gắn sim số 0815411731, tình trạng bể màn hình cảm ứng.
- - Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong túi niêm phong có mã số PS1-1903079;
- - Tịch thu tiêu hủy: hộp kim loại màu vàng bên ngoài có chữ MENTOS được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3-2143770.
Vật chứng đang được bảo quản tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo: Phùng Tấn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hán Văn Mai |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
|
Phạm Ngọc Minh |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Đàng Thị Hồng Lam |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
|
Lê Quang Chính |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phú Anh Lân |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
|
Lê Thị Hường |
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Tấn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 bLHS
