Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯƠNG KHÊ

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày: 14/6/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Anh Hùng và ông Trịnh Xuân Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 14/6/2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/HSST, ngày 06/5/2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS, ngày 29/5/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 284/2024/TB-TA, ngày 11/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Đình T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20/8/2005; nơi sinh: Thị trấn H, huyện H; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; anh chị em ruột có 03 người (bị cáo là con thứ nhất); Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/01/2024, Chủ tịch UBND xã G, huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37/QĐ-XPHC phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 28/11/2023; ngày 22/01/2024, Chủ tịch UBND xã L, huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 03/12/2023; Bản án số 30/2024/HSST, ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H cho đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: Đinh Văn P; sinh ngày: 05/02/2004; nơi sinh: Xã H, huyện H; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T3 và bà Nguyễn Thị H; anh chị em ruột có

04 người (bị cáo là con thứ nhất); Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 11/2024/HSST, ngày 14/3/2024 Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Nguyễn Thị M; sinh năm 1976; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn H, huyện H. Vắng mặt.
  • + Anh Võ Quang M1; sinh năm 1988; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn H, huyện H. Vắng mặt.
  • + Anh Trần Anh T4; sinh năm 1994; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn E, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
  • + Anh Đinh Văn T3; sinh năm 1982; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Biện Văn H1; sinh năm 1973; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Xóm D, xã H, huyện H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 19/12/2023, Vũ Đình TĐinh Văn P cùng thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ H2 thuộc xã H, huyện H. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T mượn xe mô tô Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát 38B1-283.99 của P đi sinh nhật bạn. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T quay lại nhà nghỉ rủ P đi mua ma túy về sử dụng thì được P đồng ý. Vũ Đình T điều khiển xe mô tô chở P đến nhà anh Võ Quang M1, sinh năm 1978, trú tại tổ dân phố H, thị trấn H để mua ma tuý. Khi đến nơi, P đứng ngoài chờ còn T đi bộ vào trong nhà nhưng không gặp anh M1 mà chỉ gặp hai người đàn ông không quen biết đặt vấn đề mua 500.000 đồng ma túy đá thì được một người đàn ông đồng ý rồi đưa cho T một số tài khoản ngân hàng và yêu cầu chuyển 530.000 đồng, trong đó có 30.000 đồng là tiền công mua hộ ma túy. Do không có tiền trong tài khoản nên T điều khiển mô tô đến cửa hàng T5 ở khu vực ga H Phố nhờ chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố F, thị trấn H chuyển khoản 530.000 đồng từ số tài khoản 105006976353 của Ngân hàng TMCP C (V) của chị M vào số tài khoản 11678919091994 của Ngân hàng TMCP K (T6) mang tên Trần Anh T4. Trong khi Vũ Đình T đi chuyển tiền thì Đinh Văn P được một người đàn ông gọi vào trong nhà đưa cho 01 ống nhựa màu xanh, hai đầu được dán kín mép, bên trong có chứa ma túy. P cất ống nhựa vào túi áo khoác bên phải, sau đó T quay lại chở P đi đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm D, xã H, huyện H để sử dụng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi gần đến khu vực nghĩa trang thì bị tổ công tác Công an huyện H phối hợp Công an các xã H, P, H phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi

áo bên phải của P 01 ống nhựa hình tròn, màu xanh và 01 ống thủy tinh dạng phễu.

Tại bản Kết luận giám định số 47/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Các chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2535gam.

* Vật chứng vụ án, gồm: - 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 38B1-283.99, xác định chiếc xe là của ông Đinh Văn T3 (cha đẻ P) do P tự ý sử dụng, ông T3 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu; Còn 01 đoạn ống nhựa hình tròn, màu xanh, chứa các chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,2535gam Methamphetamine, đã lấy 0,0406gam để giám định, còn lại 0,2129gam, được cho vào 01 túi ni lông trong suốt, một đầu được dán kín mép, kích thước (5x8,5)cm; 01 ống thủy tinh dạng phễu. Các vật chứng này đều đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKS-HS, ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Vũ Đình TĐinh Văn P đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đình T mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 30/2024/HSST, ngày 10/5/2024 Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 23 tháng đến 25 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 19/12/2023), nhưng bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/11/2023 đến ngày 07/11/2023; Xử phạt bị cáo Đinh Văn P mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 11/2024/HSST, ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, buộc bị cáo P phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 18 tháng đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 19/12/2023).

- Hình phạt bổ sung: Các bị cáo Vũ Đình TĐinh Văn P có hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung.

- Vật chứng vụ án, gồm: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê.

Các bị cáo đều thừa nhận nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố tại phiên tòa hôm nay là đúng và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị M, anh Võ Quang M1, anh Trần Anh T4, anh Đinh Văn T3; Người chứng kiến anh Biện Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Các bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa, Hội đồng xét xử, xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ án nên quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Tình tiết định tội, định khung, tính chất mức độ hành vi phạm tội:

- Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Vũ Đình TĐinh Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định vào khoảng 19 giờ ngày 19/12/2023, sau khi cùng nhau đi mua 0,2535gam ma túy, loại Methamphetamine thì Vũ Đình T chở Đinh Văn P đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, hành vi đó đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

- Vụ án thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Bản thân các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội, khi con người sử dụng sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi

người, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm buộc các bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian.

[4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Vũ Đình TĐinh Văn P là đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, câu kết chặt chẻ. Xét vị trí, vai trò các bị cáo; tình tiết tăng nặng, nhân thân và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong vụ án như sau:

- Bị cáo Vũ Đình T là người khởi xướng, rủ rê lôi kéo điều khiển xe mô tô chở bị cáo P và cung cấp tiền để cùng đi mua ma túy sử dụng. Bản thân bị cáo là người đã thành niên nhưng không chịu lao động, sản xuất mà sớm rơi vào lối sống buông thả nên đã nghiện ma tuý, bị cáo có 3 nhân thân xấu và giữ vai trò chính trong vụ án nên phải chụi hình phạt cao hơn bị cáo P và cần xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần. Ngày 10/5/2024, Vũ Đình T bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 30/2024/HSST, bản án đã có hiệu lực pháp luật, do đó khi quyết định hình phạt cần căn cứ khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của hai bản án.

- Đối với bị cáo Đinh Văn P là đồng phạm thứ yếu, có vị trí thấp trong vụ án, sau khi nghe T rủ đi mua ma túy thì bị cáo đồng ý đưa xe mô tô của gia đình mình cùng bị cáo T đi mua ma túy cũng là người trực tiếp nhận ma túy cất dấu vào người để đi sử dụng. Bản thân bị cáo cũng có nhân thân xấu từng bị Tòa án đưa ra xét xử, vì vậy cần xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách lý ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần. Ngày 14/3/2024 Đinh Văn P bị Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 11/2024/HSST, bản án đã có hiệu lực pháp luật, do đó khi quyết định hình phạt cần căn cứ khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của hai bản án.

- Các bị cáo TP đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo Vũ Đình TĐinh Văn P có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung.

[6] Các hành vi khác: - Trong vụ án này bị cáo T đã chuyển 530.000 đồng tiền mua ma túy cho Trần Anh T4 từ số tài khoản của chị Nguyễn Thị M, nhưng T4 không thừa nhận việc bán ma túy cho T. Cơ quan điều tra đã tiến hành nhận dạng thì các bị cáo xác định người đàn ông đưa số tài khoản cho T và đưa ma túy cho P không phải là Trần Anh T4, do đó không có căn cứ để xử lý đối với người này. Chị Nguyễn Thị M là người được T nhờ chuyển tiền; anh Đinh Văn

T3 là chủ sở hữu xe mô tô do TP sử dụng nhưng không biết mục đích để mua ma túy. Ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để kết luận, Viện kiểm sát không truy tố nên miễn xét.

- Ngoài ra quá trình điều tra bị cáo T khai mua ma túy tại nhà ở của Võ Quang M1 nhưng M1 không thừa nhận, bị cáo T xác định 02 người đàn ông bán ma túy cho T không phải M1 nên không có căn cứ xử lý. Đối với 02 người đàn ông đã bán ma túy tại nhà Võ Quang M1 do còn thiếu thông tin nên không xác định được những người này để điều tra, xử lý. Ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để kết luận, Viện kiểm sát không truy tố nên miễn xét.

[7] Vật chứng vụ án: - 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 38B1-283.99, xác định chiếc xe là của ông Đinh Văn T3 (cha đẻ P) do P tự ý sử dụng, ông T3 không biết nên đã trả lại cho chủ sở hữu, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả cho các chủ sỡ hữu là đúng pháp luật nên miễn xét.

- Còn 01 đoạn ống nhựa hình tròn, màu xanh, chứa các chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,2535gam Methamphetamine, đã lấy 0,0406gam để giám định, còn lại 0,2129gam, được cho vào 01 túi ni lông trong suốt, một đầu được dán kín mép, kích thước (5x8,5)cm; 01 ống thủy tinh dạng phễu. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

[8] An phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Quan điểm đề nghị xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù hợp nhận định Hội đồng xét xử và đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Tuyên bố các bị cáo Vũ Đình TĐinh Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Vũ Đình T 16 (mười sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 30/2024/HSST, ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án 23 (hai mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 19/12/2023, nhưng bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/11/2023 đến ngày 07/11/2023.

+ Xử phạt bị cáo Đinh Văn P 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 11/2024/HS-ST, ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Buộc bị cáo P phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 19/12/2023.

* Vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 đoạn ống nhựa hình tròn, màu xanh, chứa các chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,2535gam Methamphetamine, đã lấy 0,0406gam để giám định, còn lại 0,2129gam, được cho vào 01 túi ni lông trong suốt, một đầu được dán kín mép, kích thước (5x8,5)cm; 01 ống thủy tinh dạng phễu (đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2024).

* Án phí: Buộc các bị cáo Vũ Đình TĐinh Văn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/6/2024); Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an tỉnh Hà Tĩnh (PV 06);
  • - Trại tạm giam;
  • - CA h. Hương Khê;
  • - CQ. THAHS Công an huyện Hương Khê;
  • - Chi cục THADS huyện Hương Khê;
  • - Các bị cáo; Người LQ; UBNDX bc cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, VP-PP

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Khánh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger