|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HS-ST
Ngày: 15-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Thanh Vân
Ông Lý Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà La Quỳnh Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa: Ông Triệu Văn Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Đại H (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 08 tháng 01 năm 1983 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn T, sinh năm 1957 và bà Triệu Thị M, sinh năm 1958; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2008/HSST, ngày 29/12/2008, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 tháng tù về “Trộm cắp tài sản”; Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2017/HS-ST, ngày 21/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Bị hại: Ông Lê Tuấn H1, sinh năm 1980. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1
Bà Phan Thị T1, sinh năm 1983. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Địa chỉ: Tổ D, phường T, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
Bà Triệu Thị M, sinh năm 1958. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
Ông La Vĩnh T2, sinh năm 1965 - Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
Ông Vũ Văn C, sinh năm 1979 - Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/7/2023, Phan Đại H đi lên khu vực mỏ vàng Ma Nu thuộc huyện N, tỉnh Bắc Kạn để làm vàng, đến ngày 21/7/2023, H bỏ đi về. Trên đường đi từ bãi vàng M thuộc thôn K, xã T, huyện N ra đến thị trấn V, huyện N thì H có gọi điện thoại cho Lê Tuấn H1 để H1 ra đón vào nhà H1 chơi (H và H1 quen biết nhau do trước đây đi chấp hành án phạt tù cùng nhau). Sau khi đón về nhà, H ăn ở, sinh hoạt tại nhà H1. Khoảng 12 giờ ngày 22/7/2023, H cùng H1 đi chăn trâu, trong thời gian này H1 đi xe môtô của H1 vào nhà người dân gần đó chơi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H nhận được điện thoại của người quen rủ đi xuống tỉnh Quảng Ninh làm thuê, lúc này H không nói cho H1 biết mà một mình điều khiển xe mô tô của H1 từ khu vực chăn trâu đi về nhà H1 để lấy quần áo. Khi đến dưới nhà, H để xe mô tô tại lề đường bê tông và đi bộ lên sân nhà rồi đi vào nhà lấy quần áo để trong buồng nơi H ngủ. Khi quay ra không thấy có ai ở trong nhà và thấy cửa buồng bên trái mở, H đi vào buồng, thấy cửa tủ không khoá, H dùng tay trái mở cánh tủ trong cùng sát tường theo hướng từ cửa buồng đi vào thấy có ít quần áo và 01 (một) tập tiền (loại tiền Việt Nam đồng) được buộc bằng một dây chun màu vàng (loại dây nịt) để trên mặt ngăn giữa của tủ. H không đếm mà dùng tay trái cầm tập tiền và cho vào túi đựng quần áo màu xanh của mình rồi đóng cửa tủ lại và đi ra khỏi nhà. H lấy xe mô tô và điều khiển xe đi ra ngã ba đoạn đường giao nhau giữa đường H và đường Quốc lộ 3 cũ để đón xe khách. Tại đây, H đi vào nhà ông La Vĩnh T2, sinh năm 1965, trú tại: T, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn gửi xe mô tô đồng thời gọi điện thoại báo cho H1 biết là H đi về và có gửi xe mô tô ở nhà ông T2 để H1 ra lấy. Sau đó H lên xe khách đi về thành phố B và tiếp tục đón xe khách về Thái Nguyên, khi đi đến khu S, xã N, huyện C thì H xuống xe đi vào nhà của ông Vũ Văn C, sinh năm 1979, trú tại: thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (là bạn của H, do trước đó có đi chấp hành án phạt tù cùng nhau) và nghỉ lại nhà C. Sáng ngày 23/7/2023 H đón xe khách đi đến thành phố T, sau đó đi xuống tỉnh Quảng Ninh làm thuê được khoảng 04 tháng, rồi lại chuyển sang Hải Phòng làm thuê, trong thời gian này H không về nhà và đã sử dụng số tiền trộm cắp được tại nhà H1 để tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân hết. Thời điểm trộm cắp tài sản thì H không đếm số tiền
2
trộm được nhưng trong quá trình sử dụng, tiêu dùng thì H xác định số tiền đã trộm cắp được tại nhà H1 khoảng hơn 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ông H1 nghi ngờ H lấy trộm nên đã nhiều lần gọi điện thoại liên lạc với H nhưng H không nghe, sau đó tắt máy không liên lạc được nữa. Ngày 23/7/2023, ông H1 đã trình báo đến cơ quan Công an. Quá trình xác minh cơ quan Công an đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập tài liệu xác định làm rõ số tiền bị mất trộm 30.300.000₫ (Ba mươi triệu ba trăm nghìn đồng) là tài sản của ông Lê Tuấn H1 và bà Hứa Thị Q do vợ chồng ông H1 bán Ngựa cho ông Bàn Văn S, sinh năm 1963, trú tại: tiểu Khu I, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn mà có.
Ngày 24/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho Lê Tuấn H1 và Hứa Thị Q nhận dạng đối với Phan Đại H. Kết quả nhận dạng H1, Q khẳng định người đã đến nhà ở của H1 và Q vào ngày 21 và 22/7/2023 là Phan Đại H.
Ngày 29/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn ra quyết định truy tìm số 26 đối với Phan Đại H. Đến ngày 18/3/2024 H về nhà tại thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn và ngày 19/3/2024 được Cơ quan điều tra yêu cầu về làm việc.
Ngày 21/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định thực nghiệm điều tra về hành vi trộm cắp tài sản của Phan Đại H. Kết quả thực nghiệm H đã chỉ rõ vị trí và diễn biến vụ việc đều phù hợp tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSNS, ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo Phan Đại H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Phan Đại H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam.
- - Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do đó, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- - Về vật chứng trong vụ án: Không có.
- - Về án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bổ sung bào chữa hay khiếu nại gì. Bị
3
hại không có tranh luận. Lời sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng Vũ Văn C vắng mặt. Bị cáo, bị hại, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản thực nghiệm điều tra, kết quả khám nghiệm hiện trường, lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 14 giờ, ngày 22/7/2023 tại nhà ở của vợ chồng ông Lê Tuấn H1, sinh năm 1980 và bà Hứa Thị Q, sinh năm 1982 tại Tiểu Khu B, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Phan Đại H, sinh năm 1983, trú tại: thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã có hành vi lén lút trộm cắp số tiền 30.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) của vợ, chồng Lê Tuấn H1 và Hứa Thị Q, để mang đi tiêu dùng cá nhân.
Hành vi của bị cáo Phan Đại H đã đủ yếu tố cấu thành “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
4
Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhưng vì tham lam, tư lợi mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, hình phạt đối với bị cáo
Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa mà tiếp tục phạm tội. Qua đó, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt
Hình phạt chính: Cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cần thiết mới đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho gia đình, xã hội và đáp ứng yêu cầu của việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có tài sản, thu nhập do đó không xem xét áp dụng.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động người thân, gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000đ, số tiền 300.000₫ còn lại, bị hại không có đề nghị bị cáo hoàn trả và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị T1 và bà Triệu Thị M không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền mà bà T1, bà M đã bồi thường bị hại thay cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Quá trình điều tra không thu hồi được số tiền đã trộm cắp, do bị cáo đã tiêu dùng cá nhân hết.
[8] Vấn đề liên quan trong vụ án: Sau khi trộm cắp tài sản, bị cáo đã gửi xe mô tô của ông H1 tại nhà ông La Vĩnh T2 và tối ngày 22/7/2023, bị cáo ngủ lại tại nhà ông Vũ Văn C. Tuy nhiên, ông T2, ông C không biết việc bị cáo thực hiện
5
hành vi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Đại H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 21/3/2024.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Út Lệ |
6
Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
